PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Formatted: Font: Not Italic, Font color: Auto Cùng với công cuộc đổi mới toàn diện đất nƣớc, sự thành công trong việc đẩy nhanh tốc độ tăng trƣởng kinh tế đang đặt ra cho đất nƣớc nhiều vấn đề tiêu cực về môi trƣờng và xã hội. Chính những vấn đề đó đòi hỏi các chủ thể kinh tế, trong đó có cả các DN, phải có trách nhiệm để góp phần giải quyết, nếu không bản thân sự phát triển kinh tế sẽ không bền vững và sẽ phải trả giá đắt về môi trƣờng vàã những vấn đề xã hội. Trên thực tế, không phải đến bây giờ, vấn đề TNXH của DN mới đƣợc đặt ra; mà trái lại, ngay trong thời bao cấp, ngƣời ta cũng đã nói nhiều về TNXH của các xí nghiệp đối với nhà nƣớc và ngƣời lao động, cũng nhƣ đối với cộng đồng nói chung.
Nhƣng, trong những năm gần đây, TNXH đƣợc hiểu một cách rộng rãi hơn, không chỉ từ phƣơng diện đạo đức mà cả từ phƣơng diện pháp lý. Những tác hại về môi trƣờng do một số DN gây ra trong thời gian gần đây đã bị cả xã hội lên án, thậm chí bị pháp luật xử lý nghiêm khắc. Do đó, không phải ngẫu nhiên, trong sách báo và trên nhiều diễn đàn của Việt Nam, thuật ngữ TNXH của DN đã và đang ngày càng đƣợc sử dụng phổ biến. Thuật ngữ TNXH của DN mới chính thức xuất hiện cách đây hơn 50 năm, khi H.Bowen công bố cuốn sách của mình với nhan đề "TNXH của doanh nhân" (Social Responsibilities of the businessmen) (1953) nhằm mục đích tuyên truyền và kêu gọi ngƣời quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của ngƣời khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các DN làm tổn hại cho xã hội.
Tuy nhiên, từ đó đến nay, thuật ngữ TNXH của DN đang đƣợc hiểu theo nhiều cách khác nhau. Một số ngƣời xác định "TNXH hàm ý nâng hành vi của DN lên một mức phù hợp với các 1 z quy phạm, giá trị và kỳ vọng xã hội đang phổ biến" (Prakash, Sethi, 1975: 58 – 64). Một số ngƣời khác hiểu "TNXH của DN bao gồm sự mong đợi của xã hội về kinh tế, luật pháp, đạo đức và lòng từ thiện đối với các tổ chức vào một thời điểm nhất định" (Archie. Hiện đang tồn tại hai quan điểm đối lập nhau về TNXH của DN.
Những ngƣời ủng hộ quan điểm thứ nhất cho rằng, DN không có trách nhiệm gì đối với xã hội mà chỉ có trách nhiệm với cổ đông và ngƣời lao động của DN, còn nhà nƣớc phải có trách nhiệm với xã hội; DN đã có trách nhiệm thông qua việc nộp thuế cho nhà nƣớc. Trái lại, những ngƣời khác lại có quan điểm cho rằng, với tƣ cách là một chủ thể của nền kinh tế thị trƣờng, các DN đã sử dụng các nguồn lực của xã hội, khai thác các nguồn lực tự nhiên và trong quá trình đó, họ gây ra những tổn hại không tốt đối với môi trƣờng tự nhiên. Vì vậy, ngoài việc đóng thuế, DN còn có TNXH đối với môi trƣờng, cộng đồng, ngƣời lao động. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây ngƣời ta thƣờng sử dụng định nghĩa của Nhóm phát triển kinh tế tƣ nhân của Ngân hàng thế giới về TNXH của DN.
Theo đó, "TNXH của DN (Corporate Social Responsibiliy – CSR) là sự cam kết của DN đóng góp vào sự phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lƣợng cuộc sống của ngƣời lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả DN cũng nhƣ phát triển chung của xã hội". Nói cách khác, DN muốn phát triển bền vững luôn phải tuân theo những chuẩn mực về bảo vệ môi trƣờng, bình đẳng về giới, an toàn lao động, trả lƣơng công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên và phát triển cộng đồng. TNXH của DN đƣợc thể hiện một cách cụ thể trên các yếu tố, các mặt, nhƣ: 1. Bảo vệ môi trƣờng; 2.
Đóng góp cho cộng đồng và xã hội; 3. Thực hiện tốt trách nhiệm với nhà cung cấp; 4. Bảo đảm lợi ích và an toàn cho ngƣời tiêu 2 z dùng; 5. Quan hệ tốt với ngƣời lao động; 6.
Đảm bảo lợi ích cho cổ đông và ngƣời lao động trong DN. Trong đó, bốn yếu tố đầu thể hiện trách nhiệm bên ngoài của DN, còn hai yếu tố cuối thể hiện trách nhiệm bên trong của DN. Tất nhiên, sự phân chia thành trách nhiệm bên ngoài và bên trong chỉ mang tính tƣơng đối, và không thể nói trách nhiệm nào quan trọng hơn trách nhiệm nào. Với những nội dung cụ thể nhƣ vậy về TNXH thì việc thực hiện TNXH của DN không chỉ làm cho DN phát triển bền vững, mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội nói chung.
Bắc Ninh với diện tích trên 800 km2, dân số hơn 1 triệu ngƣời, có lợi thế về vị trí địa lý, giao thông, cơ sở hạ tầng. Những lợi thế đó, cộng với sự nỗ lực, quyết tâm của các cấp chính quyền địa phƣơng trong việc thực hiện đổi mới, cải tiến thủ tục hành chính theo hƣớng đơn giản, nhanh gọn; chính sách đầu tƣ đa dạng, hấp dẫn… Bắc Ninh đã và đang hình thành nên nhiều khu công nghiệp và khu đô thị, là sự lựa chọn đầu tƣ của nhiều DN cả trong và ngoài nƣớc. Tuy nhiên với sự phát triển nhanh chóng về số lƣợng và chất lƣợng của các khu công nghiệp kéo theo nhiều vấn đề tiêu cực về môi trƣờng, xã hội phát sinh trên địa bàn, đòi hỏi cần có sự vào cuộc của các cấp chính quyền, địa phƣơng, ngƣời lao động cũng nhƣ chính bản thân các DN đang hoạt động trong các khu công nghiệp trên địa bàn. Đồng thời, thực tiễn cũng cho thấy rằng việc nâng cao TNXH của DN sẽ giúp giảm bớt các vấn đề về xã hội nảy sinh, cũng đồng thời giảm bớt chi phí xã hội phải tổn hao cho việc khắc phục các vấn đề, giống nhƣ phƣơng châm mà Bác Hồ đã chỉ ra "Phòng bệnh hơn chữa bệnh".
Thực tế đã cho thấy những DN quan tâm đến TNXH luôn nhận đƣợc sự ủng hộ từ phía chính quyền địa phƣơng, khách hàng cũng nhƣ cộng đồng xung quanh, qua đó nâng cao hình ảnh và giá trị cho DN. Nhà máy Canon Bắc Ninh với rất nhiều chƣơng trình hành động vì cộng đồng và quan tâm đến chất lƣợng cuộc sống 3 z ngƣời lao động nên luôn thu hút đƣợc lực lƣợng lao động dồi dào và có trình độ. Qua đó có thể thấy thực hiện TNXH không chỉ mang lại lợi ích trƣớc mắt cho DN mà còn giúp DN phát triển bền vững. Xác định đây là vấn đề mang ý nghĩa thực tiễn đối với sự phát triển của tỉnh Bắc Ninh, nơi cá nhân tác giả đang sinh sống, công tác và có điều kiện khả thi cho việc triển khai thực hiện các nghiên cứu, đồng thời phù hợp với chuyên ngành đào tạo thạc sĩ mà tác giả đang theo học tại trƣờng Đại học kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội, tác giả lựa chọn đề tài "TNXH của các DN tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh " làm đề tài nghiên cứu và là luận văn tốt nghiệp nhằm giúp tác giả ứng dụng các kiến thức, tƣ duy nghiên cứu đƣợc đào tạo và giải quyết các vấn đề của thực tiễn.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Formatted: Font: Not Italic, Font color: Auto - Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu đƣợc triển khai nhằm khái quát những vấn đề lý luận và thực tiễn về TNXH của DN, cũng nhƣ tìm hiểu về thực trạng thực hiện TNXH của các DN đang hoạt động trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh để từ đó nhằm đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vấn đề này.giúp các DN nhận thức rõ vai trò của việc thực hiện TNXH, để từ đó nâng cao trách nhiệm của DN. - Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt đƣợc mục đích nêu trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau : + Nghiên cứu, tìm hiểu, hệ thống hóa những vấn đề lý luận về TNXH của DN. + Nghiên cứu, phân tích thực trạng việc thực hiện TNXH của DN trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. 4 z + Đề xuất một số giải pháp nâng cao TNXH của DN để góp phần giúp tỉnh Bắc Ninh nói riêng và cả nƣớc nói chung phát triển kinh tế một cách bền vững, giảm thiểu các vấn đề xã hội phát sinh.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Formatted: Font: Not Italic, Font color: Auto - Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề liên quan đến TNXH, TNXH của DN. các nghĩa vụ trong thực hiện TNXH của DN. - Phạm vi nghiên cứu: + Phạm vi về nội dung: Do các DN hoạt động tại các KCN đa phần tập trung vào khâu chế xuất, không trực tiếp phân phối tới các đối tƣợng khách hàng nên đề tài không nghiên cứu sâu về TNHXH của DN đối với khách hàng, ngƣời tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ của các DN. + Phạm vi thời gian: Trong phạm vi khuôn khổ của nghiên cứu, giới hạn khoảng thời gian nghiên cứu từ thời điểm Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức liên hợp quốc WTO – năm 2007 đến nay.
+ Phạm vi không gian: Nghiên cứu lựa chọn 1 số khu công nghiệp lớn trong tỉnh Bắc Ninh: Khu công nghiệp VSIP Từ Sơn, khu công nghiệp Tiên Sơn, khu công nghiệp Quế Võ I, khu công nghiệp Yên Phong I. Những đóng góp mới của đề tài Formatted: Font: Not Italic, Font color: Auto Đề tài đƣợc nghiên cứu với mong muốn có những đóng góp sau: - Hệ thống hóa một số nội dung lý luận và thực tiễn về TNXH. - Phân tích đƣợc thực trạng việc thực hiện TNXH của các DN đang hoạt động trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. - Từ kết quả nghiên cứu đánh giá đƣợc các DN đó đang thực hiện TNXH ở mức độ nào? Việc thực hiện TNXH là bắt buộc, tự nguyện hay là kết hợp của cả hai yếu tố trên? - Trên cơ sở kết quả nghiên cứu và đánh giá về tình hình thực hiện TNXH của các DN trong các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc Ninh đề 5 z xuất ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy hơn nữa việc thực hiện TNXH của các DN.
Kết cấu của luận văn Formatted: Font: Not Italic, Font color: Auto Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn đƣợc chia thành 4 chƣơng : - Chƣơng 1.