Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Quản trị kinh doanh (mã số 62.02) của tác giả Châu Thị Lệ Duyên, bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Bích Châm và TS Ngô Thị Ánh, mang tiêu đề: "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Mối quan hệ với hiệu quả hoạt động – Trường hợp các doanh nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long – Việt Nam". Công trình tập trung phân tích thực nghiệm mối liên hệ giữa việc thực thi trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) và hiệu quả hoạt động tài chính (FP) tại khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam.

Tính cấp thiết của đề tài bắt nguồn từ bối cảnh kinh tế toàn cầu hóa và tăng trưởng nhanh nhưng thiếu bền vững (Sachs, 2008), làm gia tăng các áp lực xã hội và suy thoái môi trường. Tại Việt Nam – một nền kinh tế đang phát triển với tỷ trọng áp đảo là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) cùng làn sóng đầu tư trực tiếp nước ngoài và hoạt động mua bán - sáp nhập (M&A) gia tăng – các áp lực thực thi chuẩn mực xã hội ngày càng trở nên cấp thiết. Mặc dù nhiều nghiên cứu quốc tế khẳng định CSR nâng cao khả năng cạnh tranh trong dài hạn (Weber, 2008), các nhà quản lý doanh nghiệp trong nước vẫn thường e ngại chi phí thực thi CSR sẽ làm suy giảm lợi nhuận ngắn hạn.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định từ sự thiếu nhất quán trong y văn thế giới: các công trình thực nghiệm suốt ba thập niên qua chưa đạt được sự đồng thuận về tính nhân quả giữa CSR và hiệu quả hoạt động (Ullmann, 1985; Wood và Jones, 1995; Margolis và Walsh, 2003). Đa phần các nghiên cứu chỉ xem xét mối liên hệ hai biến đơn lẻ mà bỏ qua các tác nhân trung gian, thiếu mô hình kiểm định đồng thời các cơ chế tác động trực tiếp và gián tiếp thông qua lợi ích kinh doanh, vai trò định hướng của phong cách lãnh đạo, cũng như ảnh hưởng điều tiết từ quy mô doanh nghiệp trong dài hạn tại thị trường mới nổi như Việt Nam.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án được đánh số cụ thể gồm:

  1. Những lý thuyết nghiên cứu về trách nhiệm xã hội, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp hiện nay, có những khái niệm lý thuyết nào khi nghiên cứu ở Việt Nam là phù hợp nhất và các thành phần nào là mối quan hệ trung gian khi nghiên cứu về mối quan hệ này?
  2. Mô hình lý thuyết về mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được thể hiện như thế nào khi nghiên cứu trong dài hạn? Có mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp hay không? Mối quan hệ này là cùng chiều hay ngược chiều? Có sự khác biệt giữa quy mô doanh nghiệp trong mối quan hệ này hay không?
  3. Những hàm ý nào có thể được đưa ra để giúp nhà lãnh đạo cũng như doanh nghiệp hiểu và vận dụng hiệu quả hơn cho doanh nghiệp khi thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp?

Tương ứng với các câu hỏi trên, hệ thống mục tiêu nghiên cứu được tác giả xác lập trong văn bản gồm:

  • Mục tiêu 1: Khám phá lý thuyết về mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, các nhân tố cấu thành mối quan hệ này.
  • Mục tiêu 2: Xây dựng và kiểm định mô hình lý thuyết mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, kiểm định sự khác biệt giữa quy mô doanh nghiệp trong mối quan hệ này.
  • Mục tiêu 4: Đưa ra được những hàm ý quản trị liên quan đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong công tác quản trị doanh nghiệp.

Đối tượng nghiên cứu là mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động kinh doanh. Đối tượng khảo sát là các nhà quản lý doanh nghiệp, bao gồm giám đốc, phó giám đốc, nhà quản lý phụ trách trách nhiệm xã hội, trưởng phòng nhân sự hoặc trưởng phòng marketing tại các doanh nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Phạm vi không gian được thực hiện tại ba địa phương đại diện cho khu vực: thành phố Cần Thơ (địa bàn trung tâm) cùng hai tỉnh hai phía là Vĩnh Long và Kiên Giang. Phạm vi thời gian và tính chất đánh giá tập trung xem xét tác động của CSR trong dài hạn, kết hợp dữ liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát sơ cấp thu thập đến năm 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án chỉ ra sự phân hóa sâu sắc trong các công trình nghiên cứu quốc tế về mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội và hiệu quả hoạt động kinh doanh. Tác giả phân loại và hệ thống hóa các hướng nghiên cứu chủ đạo:

Hướng nghiên cứu Tác giả và năm công bố Luận điểm và kết quả chính
Mối quan hệ không đáng kể hoặc không xác định rõ Orlitzky và cộng sự (2003); Neville và cộng sự (2005); Prado-Lorenzo và cộng sự (2008); Park và Lee (2009) Chưa tìm thấy kết nối đầy đủ hoặc mối liên hệ giữa CSR và hiệu quả hoạt động rất mờ nhạt, thiếu tính nhân quả ổn định.
Mối quan hệ nghịch chiều hoặc rào cản chi phí Ullmann (1985); Wood và Jones (1995); Margolis và Walsh (2003); Lepoutre và Heene (2006); Graafland và cộng sự (2003) Hoạt động CSR làm phát sinh chi phí, tiêu tốn thời gian và nguồn lực tài chính, đặt các DNNVV vào thế bất lợi cạnh tranh ngắn hạn.
Mối quan hệ thuận chiều và lợi ích dài hạn Bowen (1953); Waddock và Graves (1997a, 2000); Balabanis và cộng sự (1998); Orlitzky (2005); Heremans và cộng sự (1993); Collins và Porras (1994); Bessera và Miller (2000, 2001); Murillo và Lozano (2006); Weber (2008) Thực hiện tốt CSR nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn, cải thiện chỉ số tài chính, gia tăng sự tín nhiệm và bảo vệ doanh nghiệp trước các nguy cơ tẩy chay.
Cơ chế trung gian qua các bên liên quan Freeman (1984, 1991); Donaldson và Preston (1995); Jones (1995); Fombrun và Shanley (1990); Fombrun và cộng sự (2000); Sweeney (2007) CSR không tác động đơn tuyến đến tài chính mà vận hành qua các trung gian: lòng trung thành của nhân viên, sự gắn bó của khách hàng, khả năng tiếp cận vốn và danh tiếng.
Động cơ CSR chiến lược từ quản trị Friedman (1970); Baron (2001, 2007); McWilliams và Siegel (2000); Godfrey (2005) CSR được thúc đẩy như một chiến lược kinh doanh định hướng thị trường nhằm tối đa hóa giá trị dài hạn cho chủ sở hữu và cổ đông.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết tập trung vào bốn khía cạnh cụ thể:

  1. Thiếu kiểm chứng thực nghiệm tại thị trường mới nổi Việt Nam, đặc biệt là vùng kinh tế nông nghiệp và dịch vụ ĐBSCL, nơi nhận thức về CSR còn phân tán và chủ yếu tập trung ở các đơn vị quy mô nhỏ.
  2. Kiểm định đồng thời mối quan hệ trực tiếp từ việc thực thi CSR đến hiệu quả hoạt động và mối quan hệ gián tiếp thông qua biến trung gian là lợi ích kinh doanh.
  3. Làm rõ vai trò tiền đề của nhân tố lãnh đạo (tiếp cận theo phong cách lãnh đạo chuyển đổi) đối với mức độ cam kết CSR, lợi ích kinh doanh và hiệu quả hoạt động.
  4. Đánh giá tính chất dài hạn của mối quan hệ bổ sung giữa CSR và hiệu quả tài chính, đồng thời kiểm soát sự khác biệt cấu trúc theo quy mô doanh nghiệp (doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ so với doanh nghiệp vừa, lớn).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án kế thừa và phát triển khung phân tích dựa trên năm nhóm lý thuyết và khái niệm cốt lõi:

  • Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory): Xuất phát từ Freeman (1984, 1991, 1993, 1994) và Donaldson và Preston (1995), đối lập với quan điểm thuần túy cổ đông của Friedman (1970). Doanh nghiệp có trách nhiệm ủy thác với nhiều nhóm đối tượng hữu quan: người lao động, khách hàng, nhà cung cấp, cộng đồng địa phương và môi trường sinh thái. Baron (1995, 2007) phân tách các đối tượng này thành hai nhóm thị trường và phi thị trường để nhận diện áp lực tương tác.
  • Khái niệm Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR): Được hệ thống từ mô hình kim tự tháp bốn tầng của Carroll (1979, 1991) gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện; kết hợp mô hình Ba vòng tròn đồng tâm (Triple Bottom Lines: People, Planet, Profit) của Elkington (1997). Luận án vận dụng mô hình đo lường của Sweeney (2007), xác định CSR là khái niệm tiềm ẩn bậc hai cấu thành từ trách nhiệm đối với năm bên liên quan: (1) môi trường, (2) khách hàng, (3) nhân viên, (4) nhà cung ứng và (5) cộng đồng.
  • Khái niệm Lợi ích kinh doanh (Business Benefits - BB): Xây dựng từ khung phân tích của Weber (2008), Fombrun và cộng sự (2000) và Sweeney (2007). Ban đầu khái niệm này được kỳ vọng phản ánh qua bốn biến quan sát: lòng trung thành của khách hàng, lòng trung thành của nhân viên, khả năng tiếp cận vốn và danh tiếng doanh nghiệp.
  • Khái niệm Lãnh đạo: Được tiếp cận theo hướng phong cách lãnh đạo chuyển đổi (Transformational Leadership), xem động cơ và định hướng của người đứng đầu là động lực kích hoạt việc thực thi các cam kết xã hội.
  • Khái niệm Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Financial Performance - FP): Được lượng hóa thông qua nhóm chỉ tiêu tài chính căn bản dựa trên sổ sách kế toán gồm tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA).

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả triển khai quy trình hỗn hợp kết hợp định tính và định lượng:

  • Nghiên cứu định tính: Phỏng vấn chuyên gia nhằm điều chỉnh các thang đo lý thuyết quốc tế cho phù hợp với ngữ cảnh thực tiễn của doanh nghiệp vùng ĐBSCL.
  • Nghiên cứu định lượng sơ bộ: Thực hiện trên mẫu khảo sát 140 doanh nghiệp. Kỹ thuật phân tích gồm thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy bằng hệ số Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA). Kết quả EFA sơ bộ chỉ ra: thang đo CSR đối với môi trường, cộng đồng và nhà cung ứng đạt giá trị hội tụ và phân biệt; riêng hai nhóm biến khách hàng và nhân viên bị gom nhóm nhưng được giữ lại dựa trên lập luận lý thuyết để tiếp tục kiểm định khẳng định ở bước sau. Đối với thang đo Lợi ích kinh doanh, biến danh tiếng doanh nghiệp không đạt giá trị hội tụ và phân biệt nên bị loại bỏ, điều chỉnh thang đo này về ba thành phần: lòng trung thành của khách hàng, lòng trung thành của nhân viên và khả năng tiếp cận vốn.
  • Nghiên cứu định lượng chính thức: Thu thập dữ liệu thông qua phỏng vấn trực tiếp các cấp quản lý tại ba tỉnh/thành (Cần Thơ, Vĩnh Long, Kiên Giang), thu được 392 quan sát hợp lệ đạt yêu cầu.
  • Kỹ thuật phân tích dữ liệu chính thức: Sử dụng phân tích nhân tố khẳng định (CFA) để kiểm định tính đơn hướng, độ tin cậy tổng hợp, giá trị hội tụ và giá trị phân biệt; áp dụng mô hình hóa cấu trúc tuyến tính (SEM) để kiểm định hệ thống giả thuyết; thực hiện kiểm định Bootstrap với cỡ mẫu lặp lại N = 1.000 để đánh giá độ vững chắc của các ước lượng; tiến hành phân tích cấu trúc đa nhóm nhằm kiểm tra vai trò điều tiết của quy mô doanh nghiệp. Nguồn dữ liệu gồm dữ liệu thứ cấp từ tài liệu thống kê doanh nghiệp và dữ liệu sơ cấp từ bảng hỏi khảo sát năm 2018.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 1 thiết lập nền tảng nghiên cứu thông qua việc làm rõ bối cảnh kinh tế toàn cầu và sự phát triển của khu vực ĐBSCL. Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài trong điều kiện các doanh nghiệp địa phương phải thích ứng với cạnh tranh và hội nhập quốc tế. Chương này nhận diện các khe hổng học thuật then chốt, xác lập ba câu hỏi nghiên cứu và hệ thống mục tiêu nghiên cứu (Mục tiêu 1, Mục tiêu 2 và Mục tiêu 4). Đối tượng nghiên cứu, đối tượng khảo sát và phạm vi không gian tại ba địa bàn Cần Thơ, Vĩnh Long, Kiên Giang được định vị rõ nét. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của công trình cùng kết cấu năm chương được khái quát toàn diện.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương 2 thực hiện việc tổng hợp cơ sở lý luận từ các trường phái quản trị hiện đại. Trọng tâm của chương là phân tích Lý thuyết các bên liên quan của Freeman (1984, 1991, 1993) và các mô hình CSR của Carroll (1979, 1991), Elkington (1997) và Sweeney (2007). Tác giả tổng hợp các công trình tiêu biểu qua Bảng 2.1 (Tổng hợp các tác giả và tác phẩm nghiên cứu về trách nhiệm xã hội) và Bảng 2.2, Bảng 2.3 về thang đo CSR và Lợi ích kinh doanh. Chương 2 thiết lập mô hình nghiên cứu lý thuyết đa biến, diễn giải logic tương tác giữa bốn cấu trúc chính: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (5 khía cạnh bên liên quan), Lợi ích kinh doanh (khách hàng, nhân viên, tiếp cận vốn, danh tiếng), Lãnh đạo (lãnh đạo chuyển đổi) và Hiệu quả hoạt động (ROS, ROE, ROA), đồng thời xây dựng hệ thống các giả thuyết kiểm định.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu khoa học qua các giai đoạn định tính và định lượng. Tác giả mô tả phương pháp thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn chuyên gia và bảng khảo sát sơ bộ. Kết quả thống kê mô tả mẫu nghiên cứu sơ bộ (140 quan sát) được tổng hợp qua Bảng 3.1. Các bảng từ Bảng 3.2 đến Bảng 3.11 phản ánh chi tiết kiểm định hệ số Cronbach's Alpha cho từng thang đo thành phần (môi trường, nhân viên, khách hàng, nhà cung ứng, danh tiếng, tiếp cận vốn, lãnh đạo, hiệu quả hoạt động). Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA (Bảng 3.12 đến Bảng 3.15) ghi nhận biến danh tiếng doanh nghiệp không đạt tiêu chuẩn phân biệt nên bị lược bỏ khỏi thang đo Lợi ích kinh doanh, đồng thời bảo lưu cấu trúc hai biến khách hàng và nhân viên trong thang đo CSR để chuyển sang giai đoạn nghiên cứu chính thức.

Chương 4: Phân tích kết quả và kiểm định mô hình nghiên cứu

Chương 4 là phần thực nghiệm trọng tâm với dữ liệu thu thập từ 392 doanh nghiệp hợp lệ tại Cần Thơ, Vĩnh Long và Kiên Giang (Bảng 4.15). Tác giả thực hiện kiểm định Cronbach's Alpha và EFA chính thức, kế tiếp là phân tích nhân tố khẳng định CFA cho từng cấu trúc tiềm ẩn và toàn bộ mô hình (Hình 4.1 đến Hình 4.5). Kết quả CFA khẳng định các thang đo đạt tính đơn hướng, giá trị hội tụ và giá trị phân biệt (Bảng 4.16, 4.17, 4.20). Phân tích cấu trúc tuyến tính SEM (Bảng 4.21, Hình 4.9) và kiểm định Bootstrap với N = 1.000 (Hình 4.8) cho thấy các phát hiện cụ thể:

  • Mối quan hệ giữa CSR và hiệu quả hoạt động là mối quan hệ dương (tích cực) trong dài hạn.
  • CSR tác động thuận chiều mạnh mẽ đến Lợi ích kinh doanh; Lợi ích kinh doanh tác động thuận chiều mạnh đến Hiệu quả hoạt động. Do đó, CSR tác động đến hiệu quả hoạt động qua cả hai con đường trực tiếp và gián tiếp (Bảng 4.22 tổng hợp hiệu quả tác động trực tiếp, gián tiếp và tổng hợp).
  • Biến Lãnh đạo chuyển đổi có tác động dương đến Lợi ích kinh doanh nhưng lại có mối quan hệ ngược chiều đối với Hiệu quả hoạt động, và tác động của lãnh đạo chuyển đổi tới CSR chưa đạt mức ý nghĩa thống kê trong mẫu khảo sát.
  • Phân tích đa nhóm (Bảng 4.23 so sánh mô hình khả biến và bất biến) chứng minh có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về cường độ và tính chất tác động giữa nhóm doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ so với nhóm doanh nghiệp vừa, lớn.

Chương 5: Kết luận, hàm ý và đóng góp của nghiên cứu

Chương 5 hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu chính và luận giải mối liên hệ tương tác giữa CSR, lợi ích kinh doanh, phong cách lãnh đạo và các chỉ số ROA, ROE, ROS. Tác giả chỉ ra các đóng góp thực tiễn cho công tác quản trị doanh nghiệp tại vùng ĐBSCL. Nội dung chương nhấn mạnh các phát hiện về rào cản chi phí ngắn hạn và giá trị kinh tế dài hạn, từ đó đề xuất các hàm ý chính sách và khuyến nghị quản lý. Đồng thời, chương 5 làm rõ các hạn chế liên quan đến phạm vi lấy mẫu, phương pháp đo lường lãnh đạo và gợi ý các hướng nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã đóng góp vào hệ thống lý luận và thực tiễn quản trị những điểm cốt lõi:

  • Đóng góp về mặt lý luận: Luận án xây dựng và kiểm định thành công mô hình cấu trúc tích hợp phức hợp giải thích cơ chế tác động của CSR đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tại một nền kinh tế đang phát triển. Điểm mới về lý luận thể hiện ở việc xác lập vai trò trung gian đầy đủ của cấu trúc Lợi ích kinh doanh (được tinh gọn gồm lòng trung thành của nhân viên, lòng trung thành của khách hàng và khả năng tiếp cận vốn sau khi loại bỏ biến danh tiếng). Công trình chứng minh rằng tác động của CSR đến hiệu quả tài chính không chỉ diễn ra trực tiếp mà còn thông qua kênh gián tiếp là các giá trị kinh doanh tích lũy từ các bên liên quan. Ngoài ra, việc đưa phong cách lãnh đạo chuyển đổi vào mô hình đã làm rõ tính chất phức tạp của biến số này khi nó thúc đẩy lợi ích kinh doanh nhưng có thể tạo áp lực ngược chiều lên hiệu quả tài chính ngắn hạn. Luận án cũng khẳng định mối quan hệ giữa CSR và hiệu quả hoạt động là mối quan hệ bổ sung trong dài hạn chứ không đơn thuần là quan hệ nhân quả một chiều.
  • Đóng góp về mặt thực tiễn và các giải pháp đề xuất: Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực chứng giúp các nhà quản trị doanh nghiệp tại ĐBSCL thay đổi nhận thức: thực thi CSR không phải là một khoản chi phí mất đi hay hành vi từ thiện đơn thuần, mà là một phương thức đầu tư chiến lược mang lại lợi ích tài chính dài hạn. Nghiên cứu chỉ ra sự khác biệt giữa các nhóm quy mô, từ đó đề xuất:
    • Đối với doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ: Cần tập trung nguồn lực hữu hạn vào các bên liên quan trực tiếp và thiết yếu nhất, cụ thể là cải thiện chính sách đãi ngộ người lao động nhằm nâng cao năng suất và giữ chân nhân sự, đồng thời bảo đảm chất lượng hàng hóa cho khách hàng để tạo dựng lòng trung thành.
    • Đối với doanh nghiệp vừa và lớn: Cần thể chế hóa CSR thành chiến lược quản trị chính thức, mở rộng sang việc tuân thủ các quy chuẩn bảo vệ môi trường, liên kết chuỗi cung ứng bền vững và tài trợ cộng đồng địa phương; tận dụng uy tín CSR để nâng cao xếp hạng tín dụng và mở rộng khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi từ hệ thống ngân hàng.
    • Đối với nhà lãnh đạo: Cần kết hợp hài hòa giữa tầm nhìn chuyển đổi và năng lực điều hành thực tế, tránh áp đặt các chương trình xã hội vượt quá khả năng cân đối dòng tiền của doanh nghiệp trong ngắn hạn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án tự xác định các hạn chế kỹ thuật và phạm vi sau:

  • Phạm vi không gian: Dữ liệu khảo sát chỉ mới thu thập tại ba tỉnh, thành phố thuộc ĐBSCL là Cần Thơ, Vĩnh Long và Kiên Giang, chưa bao quát toàn bộ 13 tỉnh thành trong vùng, do đó tính đại diện vùng có thể chịu ảnh hưởng nhất định.
  • Quy mô mẫu: Kích thước mẫu chính thức gồm 392 quan sát tuy đáp ứng yêu cầu phân tích mô hình SEM nhưng chưa thực sự lớn đối với một tổng thể doanh nghiệp đa dạng; điều này có thể tiềm ẩn sai số ước lượng trong các phép kiểm định mô hình cấu trúc.
  • Tiếp cận nhân tố lãnh đạo: Luận án chỉ khảo sát khía cạnh phong cách lãnh đạo chuyển đổi mà chưa tích hợp xem xét phong cách lãnh đạo giao dịch (Transactional Leadership), dẫn đến kết quả tác động của lãnh đạo lên hiệu quả hoạt động thể hiện chiều hướng ngược lại và tác động lên hành vi CSR chưa đạt mức ý nghĩa thống kê mong đợi.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả định hướng gồm:

  • Mở rộng phạm vi địa bàn khảo sát sang các tỉnh thành khác của khu vực ĐBSCL và các vùng kinh tế trọng điểm khác trên cả nước để gia tăng tính khái quát hóa của mô hình.
  • Gia tăng quy mô mẫu quan sát nhằm nâng cao độ chính xác và giảm thiểu các sai số thống kê khi kiểm định mô hình phức tạp.
  • Tiếp cận đa chiều khái niệm lãnh đạo bằng cách kết hợp đồng thời cả lãnh đạo chuyển đổi và lãnh đạo giao dịch để đánh giá toàn diện động cơ của nhà quản trị đối với CSR và hiệu quả kinh doanh.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng học thuật và ứng dụng:

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Kinh tế phát triển: Có thể tham khảo quy trình phân tích định lượng chặt chẽ từ phỏng vấn chuyên gia, kiểm định sơ bộ (EFA, Cronbach's Alpha) đến các bước phân tích nhân tố khẳng định (CFA), mô hình hóa cấu trúc tuyến tính (SEM), phân tích Bootstrap lặp mẫu và kỹ thuật phân tích cấu trúc đa nhóm kiểm soát quy mô.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu: Cung cấp khung tài liệu tham khảo chi tiết về Lý thuyết các bên liên quan và thang đo CSR theo tiếp cận năm bên liên quan của Sweeney (2007) được kiểm chứng tại bối cảnh thực tiễn của một nền kinh tế đang phát triển.
  • Các nhà quản trị doanh nghiệp tại ĐBSCL: Phần phân tích thực nghiệm và các hàm ý quản trị ở chương 4 và chương 5 là nguồn tư liệu định hướng giúp các cấp lãnh đạo cân đối ngân sách cho các hoạt động môi trường, người lao động, khách hàng và đối tác nhằm tối ưu hóa các chỉ số ROS, ROE, ROA.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và hiệp hội ngành nghề: Bằng chứng thực nghiệm về tác động của CSR tới khả năng tiếp cận vốn và lợi ích kinh doanh là cơ sở để các cơ quan hữu quan xây dựng chính sách khuyến khích doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội và hỗ trợ tín dụng xanh.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao yếu tố "Danh tiếng của doanh nghiệp" lại bị loại khỏi mô hình nghiên cứu chính thức? Trong bước nghiên cứu sơ bộ trên 140 mẫu, mặc dù thang đo Lợi ích kinh doanh đạt độ tin cậy Cronbach's Alpha tổng thể tốt, nhưng khi thực hiện phân tích nhân tố khám phá (EFA), biến tiềm ẩn "Danh tiếng của doanh nghiệp" không đạt được giá trị hội tụ và giá trị phân biệt theo tiêu chuẩn thống kê. Tác giả đã loại biến này ra khỏi mô hình để bảo đảm tính chuẩn xác của các thang đo; khái niệm Lợi ích kinh doanh trong nghiên cứu chính thức chỉ còn được đo lường bởi ba thành phần: lòng trung thành của nhân viên, lòng trung thành của khách hàng và khả năng tiếp cận vốn.

2. Nhân tố phong cách lãnh đạo chuyển đổi có tác động như thế nào trong mô hình SEM của luận án? Kết quả kiểm định mô hình SEM chỉ ra rằng phong cách lãnh đạo chuyển đổi có mối quan hệ tích cực (thuận chiều) đối với Lợi ích kinh doanh. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa lãnh đạo chuyển đổi và Hiệu quả hoạt động tài chính lại mang dấu âm (ngược chiều), đồng thời mối quan hệ tác động trực tiếp từ lãnh đạo chuyển đổi đến việc thực hiện CSR chưa thể hiện được ý nghĩa thống kê trong mẫu nghiên cứu này.

3. Mối quan hệ giữa CSR và hiệu quả hoạt động tài chính có sự khác biệt như thế nào theo quy mô doanh nghiệp? Thông qua kỹ thuật phân tích cấu trúc đa nhóm (so sánh giữa mô hình khả biến và mô hình bất biến ở Bảng 4.23), luận án chứng minh có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong mối quan hệ giữa CSR và hiệu quả hoạt động được kiểm soát bởi quy mô doanh nghiệp. Bản chất và mức độ tác động của các cam kết xã hội lên hiệu quả kinh doanh ở nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ có sự khác biệt rõ rệt so với nhóm doanh nghiệp có quy mô vừa và lớn.

4. Vì sao tác giả nhấn mạnh việc đánh giá CSR và hiệu quả tài chính cần xem xét trong dài hạn? Theo lập luận và phát hiện của luận án, nếu chỉ xem xét trong ngắn hạn, việc thực thi CSR thường đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu về môi trường, thiết bị, chế độ lao động, khiến các chỉ số tài chính có thể thể hiện xu hướng tiêu cực. Mối quan hệ tích cực giữa CSR và hiệu quả hoạt động chỉ bộc lộ rõ nét trong dài hạn khi các lợi ích kinh doanh (lòng trung thành của nhân viên, sự tin cậy của khách hàng, khả năng tiếp cận vốn) đã được tích lũy đầy đủ để bù đắp và vượt qua chi phí bỏ ra.

5. Luận án sử dụng những chỉ số cụ thể nào để đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp? Khái niệm tiềm ẩn Hiệu quả hoạt động (Financial Performance) trong luận án được đo lường thông qua ba chỉ tiêu tài chính căn bản trên báo cáo kế toán, bao gồm: tỷ suất lợi nhuận ròng trên doanh thu (ROS), tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ suất lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Châu Thị Lệ Duyên đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và kiểm định thực nghiệm thành công mô hình cấu trúc phức hợp về mối quan hệ giữa trách nhiệm xã hội, lợi ích kinh doanh, phong cách lãnh đạo và hiệu quả tài chính tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu chứng minh CSR tác động thuận chiều tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong dài hạn thông qua cả con đường trực tiếp và cơ chế trung gian gián tiếp từ lợi ích kinh doanh, với sự khác biệt có ý nghĩa theo quy mô tổ chức. Mặc dù còn hạn chế về địa bàn khảo sát tại ba tỉnh thành và chỉ tiếp cận phong cách lãnh đạo chuyển đổi, công trình cung cấp cơ sở dữ liệu học thuật và thực tiễn giá trị cho việc hoạch định chiến lược phát triển doanh nghiệp bền vững tại Việt Nam.