Chương 1: Tổng quan 123doc 6 Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trình bày cơ sở lý thuyết về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp nội bộ của doanh nghiệp, sự gắn kết tổ chức, sự hài lòng công việc và các mô hình, lý thuyết, nghiên cứu đã thực hiện có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, từ đó đề xuất mô hình và các giả thuyết nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, xây dựng hệ thống thang đo, kiểm định thang đo bằng định lượng sơ bộ. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày các phương pháp phân tích, phân tích kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị Tổng hợp những kết quả của nghiên cứu, giá trị của đề tài, đưa ra một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao sự hài lòng công việc của người lao động thông qua hoạt động trách nhiệm xã hội doanh nghiệp nội bộ của ngân hàng và sự gắn kết tổ chức của nhân viên. Đồng thời, tác giả cũng nêu lên những hạn chế của nghiên cứu để định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo. 123doc 7 CHƯƠNG 2 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. GIỚI THIỆU CÁC KHÁI NIỆM VÀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN 2.
Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp nội bộ Khái niệm trách nhiệm xã hội doanh nghiệp nội bộ được phát tiển từ khái niệm trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Để tìm hiểu về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp nội bộ, trước tiên chúng ta lược khảo qua về khái niệm trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. a) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (Trách nhiệm xã hội) Định nghĩa ban đầu về ‘trách nhiệm xã hội’ được ghi nhận bởi nhà nghiên cứu Bowen (1953) – ông nói rằng thuật ngữ này “đề cập đến nghĩa vụ của doanh nghiệp trong việc theo đuổi những chính sách, đưa ra quyết định, hoặc thực hiện những hành động để đạt được mục tiêu và giá trị của xã hội”. Kể từ đó, nhiều định nghĩa cho ‘trách nhiệm xã hội’ đã xuất hiện.
- Friedman (1970) đã tuyên bố rằng 'trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là tăng lợi nhuận'. - Davis (1973) lại lập luận rằng trách nhiệm xã hội đề cập đến 'xem xét và phản hồi các vấn đề vượt ra ngoài yêu cầu về kinh tế, kỹ thuật và pháp lý của công ty'. - Theo Jones (1996) trách nhiệm xã hội bao hàm việc các công ty có nghĩa vụ với ‘các nhóm khác trong xã hội, ngoài các cổ đông của công ty, và các nghĩa vụ đó thậm chí vượt quá cả những yêu cầu của pháp luật’. Theo định nghĩa này, trách nhiệm xã hội được mở rộng cho cả các nhóm bên liên quan như người tiêu dùng, nhân viên, nhà cung cấp và cộng đồng địa phương.
- Thêm vào định nghĩa về trách nhiệm xã hội từ khía cạnh xã hội, Baker (2003) đã tiếp tục nhấn mạnh rằng trách nhiệm xã hội liên quan đến cách công ty quản lý các quy trình kinh doanh của họ, để đảm bảo ảnh hưởng một cách tích cực đến xã hội và đồng thời phù hợp với chính sách doanh nghiệp. 123doc 8 - Kok và cộng sự (2001) đã định nghĩa trách nhiệm xã hội là "nghĩa vụ của công ty trong việc sử dụng tài nguyên của nó để đem lại lợi ích cho xã hội, … và cải thiện phúc lợi xã hội đồng thời độc lập với lợi ích trực tiếp của công ty”. - Aguilera và cộng sự (2007) sử dụng định nghĩa của trách nhiệm xã hội, để ám chỉ “những cân nhắc của công ty và phản ứng của công ty với các vấn đề bên ngoài các yêu cầu kinh tế, kỹ thuật và pháp lý của công ty để đạt được lợi ích xã hội và môi trường cùng với lợi ích kinh tế truyền thống mà công ty tìm kiếm”. Có thể thấy, có rất nhiều cách định nghĩa của các học giả khác nhau về trách nhiệm xã hội.
Hầu hết các định nghĩa của các nhà nghiên cứu đều muốn ám chỉ trách nhiệm xã hội như là nghĩa vụ của các doanh nghiệp đối với các bên liên quan; bên liên quan là khách hàng, đối tác, người lao động…; hay bên liên quan là bên trong doanh nghiệp, bên ngoài doanh nghiệp…Tuy nhiên cho đến nay định nghĩa về trách nhiệm xã hội vẫn còn chưa thống nhất. Trên thực tế, việc phân loại các bên liên quan là khác nhau, dựa trên một số quan điểm lý thuyết khác nhau, tùy thuộc vào cách tiếp cận của mỗi nhà nghiên cứu trong nghiên cứu của mình. • Cách tiếp cận theo quan điểm mô hình kim tự tháp trách nhiệm xã hội của Caroll (1979) Theo Caroll (1979), trách nhiệm xã hội doanh nghiệp bao gồm 04 thành tố: trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm từ thiện. Thành tố trách nhiệm kinh tế là cơ sở cho những thành tố khác và phản ánh nhu cầu của một công ty để duy trì khả năng tài chính của mình, để đảm bảo sự sống còn và tăng trưởng của nó.
Cấp độ thứ hai – được gọi là trách nhiệm pháp lý – tương ứng với sự tuân thủ trong hành động của công ty đối với pháp luật hiện hành. Mức độ đạo đức đề cập đến 'hành vi thích hợp' – nói cách khác, hành vi phù hợp với kỳ vọng của xã hội. 123doc 9 Cuối cùng, cấp độ thứ tư - trách nhiệm từ thiện – đề cập đến các hoạt động tự nguyện của công ty về các giải pháp đối với các vấn đề xã hội. Trong thành tố này, các hoạt động tự nguyện này không phải là yêu cầu bởi xã hội mà nó là mong muốn của xã hội.1: Mô hình tháp trách nhiệm xã hội của Carroll (1999) Nguồn: Tác giả dịch thuật từ mô hình gốc của Carroll (1999) • Cách tiếp cận theo quan điểm của Hameed và cộng sự (2016) Theo Hameed và cộng sự (2016), “các nhà nghiên cứu đã phân tách các hoạt động xã hội của doanh nghiệp thành trách nhiệm xã hội doanh nghiệp nội bộ và trách nhiệm xã hội doanh nghiệp bên ngoài, tương ứng các hoạt động hướng tới các bên liên quan bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp (Verdeyen và cộng sự, 2004; Werther và Chandler, 2010; El Akremi và cộng sự, 2015)”.
123doc 10 Bài nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận theo quan điểm này. Theo đó, trách nhiệm xã hội bao gồm 02 nhóm: Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp nội bộ (Trách nhiệm xã hội nội bộ) và Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp bên ngoài (Trách nhiệm xã hội bên ngoài). “Trách nhiệm xã hội bên ngoài liên quan đến các hoạt động xã hội và môi trường nhằm củng cố sự hợp pháp và danh tiếng của công ty đối với các bên liên quan bên ngoài doanh nghiệp (Hameed và cộng sự, 2016). Dẫn theo Hameed (2016), “các hoạt động trách nhiệm xã hội bên ngoài bao gồm hoạt động tình nguyện, hoạt động liên quan đến truyền thông, hoạt động từ thiện và hoạt động bảo vệ môi trường hoang dã của công ty” (Brammer và cộng sự, 2007; Chen và cộng sự, 2008; Cornelius và cộng sự, 2008).
b) Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp nội bộ Dẫn theo Hameed và cộng sự (2016), hoạt động trách nhiệm xã hội nội bộ biểu thị các chính sách và hoạt động của tổ chức ảnh hưởng tới sự hạnh phúc về mặt tâm lý và sinh lý của nhân viên của tổ chức đó (Verdeyen và cộng sự, 2004; Brammer và cộng sự, 2007; Turker, 2009b; Shen và Jiuhua Zhu, 2011). Những chính sách và hoạt động này bao gồm các khía cạnh: quyền con người, sức khỏe và sự an toàn của nhân viên, sự cân bằng đời sống – công việc, sự đào tạo nhân viên, cơ hội công bằng và sự đa dạng hóa (Hameed và cộng sự, 2016). Sự hài lòng công việc của nhân viên Trong những ngày đầu nghiên cứu về Sự hài lòng công việc, Roethlisberger và Dickson (1939) đã mô tả Sự hài lòng công việc gần như là kết quả của sự tương tác giữa con người và môi trường làm việc của mình (dẫn theo Georgios Tsourvakas, Ioanna Yfantidou, 2018). Rosen và Rosen (1955) là người đầu tiên đưa ra khái niệm về ‘giá trị’ trong mô tả của họ về hài lòng công việc, chỉ ra rằng nếu tiêu chuẩn ‘giá trị’ của nhân viên mà được đáp ứng sẽ dẫn đến cảm giác hài lòng.
Sau đó, Locke (1969) miêu tả Sự hài lòng công việc là "trạng thái cảm xúc vui vẻ do việc đánh giá công việc của một người là đạt được hoặc tạo điều kiện cho những 123doc 11 thành tựu của giá trị công việc của một người". Tác giả cũng tin rằng Sự hài lòng công việc không thể được tìm thấy chỉ trong công việc; mà hơn thế còn là sự liên kết giữa bản thân công việc và người đó. Ông cũng nhận thấy rằng mặc dù phúc lợi và lợi ích là quan trọng để người ta hài lòng với công việc của họ, tuy nhiên cảm xúc cũng đóng vai trò cốt yếu (Locke, 1969) (Dẫn theo Georgios Tsourvakas và Ioanna Yfantidou, 2018). Nhà nghiên cứu khác đã đưa ra định nghĩa về Sự hài lòng công việc là "Sự hài lòng công việc là phản ứng của nhân viên đối với kinh nghiệm làm việc của họ" (Berry L.
Tương tự như vậy, Gruneberg M. (1979) đã xác định sự hài lòng công việc là "trạng thái cảm xúc của một nhân viên đối với công việc". “Sự hài lòng công việc thực sự là cách nhân viên cảm nhận rõ ràng về công việc, các khía cạnh của công việc và điều kiện làm việc của họ” như đã nêu trong nghiên cứu của Spector P. Sự gắn kết tổ chức của nhân viên Khái niệm về Sự gắn kết của nhân viên mới được phát triển gần đây.
Thuật ngữ này đã được lan rộng ra nhiều nơi, nhiều tổ chức trên thế giới trong vòng 20 năm qua nhưng vẫn chưa thể nhất quán được nội dung và chưa thể khái niệm hóa được bởi các nghiên cứu học thuật sâu và nghiêm ngặt về khái niệm này vẫn ít được thực hiện (Shuk và Wollard, 2010). Dẫn theo Georgios Tsourvakas và Ioanna Yfantidou (2018), định nghĩa sự gắn kết đầu tiên được tìm thấy trong tài liệu học thuật là từ Kahn (1990) xác định sự gắn kết cá nhân là "hành động và biểu hiện đồng thời của bản thân cá nhân trong nhiệm vụ, hành vi - điều mà thúc đẩy kết nối đến công việc và những người khác, sự hiện diện cá nhân, và việc thực hiện công việc một cách tích cực”. Một nhân viên được gắn kết là một nhân viên hiểu được quan điểm kinh doanh của tổ chức và làm việc cùng với các đồng nghiệp để cầu tiến trong công việc vì lợi ích của tổ chức.