lời mở đầu, kết luận, các phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 5 chƣơng: Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Nội dung chƣơng 1, tác giả đã trình bày về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và cuối cùng là kết cấu của luận văn. Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Nội dung chƣơng 2 sẽ trình bày các khái niệm về trách nhiệm xã hội, lòng trung thành của nhân viên, hệ thống hoá cơ sở lý thuyết và ảnh hƣởng của trách nhiệm xã hội đến lòng trung thành của nhân viên. Qua đó, hình thành các giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu về ảnh hƣởng của các yếu tố trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến lòng trung thành của nhân viên tại SCB HCM. 8 Chƣơng 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU Để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu ở trên, trƣớc hết tác giả thực hiện các nghiên cứu định tính (tham khảo các mô hình nghiên cứu trƣớc) nhằm kiểm tra, đánh giá sự phù hợp của mô hình nghiên cứu, đảm bảo sự phù hợp của mô hình và các giả thuyết nghiên cứu đã đƣợc đƣa ra từ các nghiên cứu trƣớc đó ở trong và ngoài nƣớc.
Sau khi thực hiện nghiên cứu định tính và kiểm chứng sơ bộ mô hình, hình thành mô hình nghiên cứu phù hợp với các biến trong lĩnh vực ngân hàng, tác giả sẽ tiến hành nghiên cứu định lƣợng (chọn mẫu khảo sát) đối với cán bộ nhân viên thuộc Ngân hàng TMCP Sài Gòn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh để kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết đã đề xuất. Chƣơng 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Trong chƣơng 4 tác giả sẽ trình bày về kết quả nghiên cứu trên cơ sở phân tích dữ liệu đã thu thập đƣợc, bao gồm: kết quả phân tích thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo với hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tƣơng quan và hồi quy bội, các kiểm định liên quan đến độ phù hợp của mô hình ƣớc lƣợng. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, một số thảo luận cũng đƣợc trình bày ở Chƣơng này. Chƣơng 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ Trong chƣơng này của luận văn, tác giả sẽ trình bày các nội dung chính bao gồm các kết quả nghiên cứu, so sánh kết quả nghiên cứu với các nghiên cứu trƣớc đó và hàm ý quản trị qua các kết quả nghiên cứu đạt đƣợc.
Đồng thời, tác sẽ nêu ra các hạn chế của luận văn và đề xuất hƣớng nghiên cứu tiếp theo. TÓM TẮT CHƢƠNG 1 Trong chƣơng 1, tác giả đã trình bày về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, ý nghĩa nghiên 9 cứu và cuối cùng là kết cấu của luận văn. Chƣơng kế tiếp tác giả tiếp tục trình bày về cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu về ảnh hƣởng của các yếu tố trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đến lòng trung thành của nhân viên SCB HCM. 10 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Có nhiều định nghĩa khác nhau về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
Theo Mohr và cộng sự (2001) thì Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là những hoạt động tối thiểu hóa hoặc loại bỏ các mối nguy hiểm phát sinh trong xã hội cũng nhƣ tối đa hóa những hiệu quả nhất định trong thời gian dài. Khái niệm về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp theo Beyer (1972) và Drucker (1974) chính là doanh nghiệp nên thực hiện hoạt động xã hội nhằm tạo ra phúc lợi cho cộng đồng. Vì các doanh nghiệp kiếm đƣợc lợi nhuận từ cộng đồng và làm giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên của xã hội. Do vậy, họ phải có trách nhiệm cải thiện môi trƣờng và các nguồn tài nguyên khác, cũng nhƣ cải thiện mức sống cho toàn xã hội.” Năm 1962, trong cuốn sách “Capitalism and Freedom” (Chủ nghĩa tƣ bản và Sự tự do), nhà kinh tế học Milton Friedman đã viết: “Có một và chỉ một trách nhiệm của doanh nghiệp, đó là sử dụng nguồn tài nguyên và tham gia hoạt động nhằm tăng lợi nhuận của mình miễn sao nó vẫn tuân theo các luật chơi, nghĩa là tham gia cạnh tranh công khai và tự do, không lừa gạt hay gian lận”.
Theo cách nói này của Friedman, chúng ta xét thấy ý kiến này mới chỉ có tác dụng hiện thực hóa các quy tắc trong kinh doanh, chỉ chú ý tới việc chạy đua “nhằm tăng lợi nhuận” đúng theo mối ràng buộc của các doanh nghiệp trên thƣơng trƣờng là “không lừa gạt hay gian lận”. Có thể nói, khái niệm về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp của Friedman mới chỉ nhìn nhận Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệpở một phạm vi hẹp, chỉ thấy đƣợc lợi ích trong ngắn hạn mà bỏ qua lợi ích về lâu dài là “phát triển nhanh, mạnh và bền vững”. Sau khái niệm về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp của Friedman, xuất hiện hàng loạt các khái niệm Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp khác. Mỗi khái niệm ở mỗi thời kỳ đã có bƣớc hoàn chỉnh hơn về mặt nội dung.
“Trách nhiệm xã 11 hội của doanh nghiệp hàm ý nâng cao hành vi của doanh nghiệp lên một mức phù hợp với các quy phạm, giá trị và kỳ vọng xã hội” (Prakas Sethi, 1975). Hoặc “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp của doanh nghiệp là sự mong muốn của xã hội đối với các tổ chức về mặt kinh tế, pháp luật, đạo đức và lòng từ thiện tại một thời điểm nhất định” (Archie B Caroll, 1979). Ferrell đƣa ra khái niệm Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhƣ sau “Một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội khi quyết định rằng hoạt động của nó nhằm tạo ra và cân bằng các lợi ích khác nhau của các cá nhân và tổ chức liên quan”. Theo Ủy ban thƣơng mại thế giới về phát triển bền vững thì “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là lòng trung thành liên tục của doanh nghiệp thông qua hoạt động kinh doanh bằng cách cƣ xử có đạo đức và đóng góp vào sự phát triển kinh tế trong khi cải thiện chất lƣợng cuộc sống của lực lƣợng lao động, của gia đình họ cũng nhƣ cộng đồng địa phƣơng và toàn xã hội nói chung.
Doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là một tổ chức thu lợi nhuận mà còn cần phải trở thành một phần của cộng đồng. Họ không chỉ thúc đẩy lợi ích của các cổ đông mà còn hƣớng tới lợi ích của tất các những bên hữu quan (stakeholders).” Nhóm phát triển kinh tế tƣ nhân của Ngân hàng thế giới đƣa ra khái niệm: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững thông qua các hoạt động nhằm nâng cao chất lƣợng đời sống của ngƣời lao động và thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội theo cách có lợi nhất cho cả doanh nghiệp cũng nhƣ phát triển chung của xã hội”. Dahlsrud (2006) quan niệm về trách nhiệm xã hội là “sự mô tả hiện tƣợng mà các doanh nghiệp hành động đạt đƣợc cả mục tiêu kinh tế, pháp luật với mục tiêu xã hội và môi trƣờng. Tác giả cho rằng, do môi trƣờng kinh doanh ngày nay, mức độ toàn cầu hóa ngày càng gia tăng, các bên liên quan mới, môi trƣờng pháp luật giữa các quốc gia khác nhau, do đó sự kỳ vọng về trách nhiệm xã hội sẽ khác nhau.
Tuy nhiên, nhìn chung thì vấn đề cần quan tâm nhất đó là sự cân bằng giữa kinh tế với quy định của pháp luật và sự tác động đến môi trƣờng.” 12 Duygu Turker (2008) thì nhận định Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là những hoạt động tích cực của doanh nghiệp đối với các bên liên quan. Các hoạt động này có thể là những hoạt động về cải thiện chất lƣợng sản phẩm, quan tâm đến ngƣời lao động, cải thiện chất lƣợng cuộc sống, chấp hành pháp luật hay giúp đỡ chính phủ giải quyết những vấn đề về xã hội. Theo Vitaliano (2009) thì Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là hành động tự nguyện của doanh nghiệp, qua đó nâng cao điều kiện xã hội hoặc môi trƣờng. Tác giả cho rằng, các đối tƣợng liên quan tới doanh nghiệp thì họ đề cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về những vấn đề xã hội, môi trƣờng, nhân quyền, giới tính hơn so với một số ý kiến về mặt lợi ích kinh tế cho công ty và cổ đông của họ, và đó là một trong những tiêu chí đánh giá để thu hút, tuyển dụng và mức độ trung thành của nhân viên đối với doanh nghiệp.
(2009) lại cho rằng Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là đề cập đến các hoạt động của công ty, quy trình tổ chức và tình trạng liên quan đến nghĩa vụ nhận thức của xã hội hay các bên có liên quan phản ánh các kỳ vọng tiềm ẩn của xã hội. Các kỳ vọng đó có thể là tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp, tạo công ăn việc làm, nghĩa vụ thuế, hợp đồng kinh doanh, đáp ứng tiêu chuẩn môi trƣờng, lao động mà đôi khi vƣợt qua cả các tiêu chuẩn của pháp luật đề ra. Và còn nhiều quan điểm khác nhau về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nữa, nhƣng để tìm đƣợc một khái niệm đƣợc sử dụng khá phổ biến và xem là khá đầy đủ cũng nhƣ rõ ràng (Nguyễn Đình Tài, 2010) thì đó là định nghĩa về trách nhiệm xã hội của Hội đồng Kinh Doanh Thế giới vì Sự Phát Triển Bền Vững (World Business Council for Sustainable Development) với hơn 200 công ty đa quốc gia là thành viên, hội đồng xây dựng khái niệm này. Theo đó “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lƣợng đời sống của ngƣời lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, 13 theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng nhƣ phát triển chung của xã hội”.
Tuy nhiên, một cách tổng quát có thể hiểu rằng doanh nghiệp muốn phát triển bền vững luôn phải tuân theo những chuẩn mực về bảo vệ môi trƣờng bình đẳng về giới an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lƣơng công bằng đào tạo và phát triển nhân viên và phát triển cộng đồng.