Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh thị trường xăng dầu cạnh tranh khốc liệt, Tổng công ty Xăng dầu Quân đội (MIPECO) – đơn vị quản lý 1.297 lao động với mạng lưới phân phối rộng khắp tại 58 tỉnh thành – đang đối mặt với yêu cầu cấp thiết về việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực. Mặc dù doanh nghiệp duy trì mức đóng góp ngân sách nhà nước ấn tượng từ 1.500 đến 2.000 tỷ đồng mỗi năm và đạt lợi nhuận trước thuế 130 tỷ đồng vào năm 2016, công tác quản trị nhân sự tại đây vẫn còn tồn tại những tàn dư của cơ chế cũ. Người lao động ở một số bộ phận vẫn làm việc theo thói quen thụ động, thiếu tính đổi mới sáng tạo và đi làm mang tính hình thức.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là phân tích thực trạng các công cụ tạo động lực nhằm tìm ra nguyên nhân của những rào cản nội tại. Luận văn đặt ra 3 mục tiêu cụ thể: hệ thống hóa lý luận về động lực và tạo động lực lao động trong doanh nghiệp; đánh giá thực trạng các chính sách kích thích vật chất và phi vật chất tại Tổng công ty giai đoạn 2014-2016; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện công tác tạo động lực trong giai đoạn tiếp theo. Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung tại trụ sở chính Tổng công ty (số 33B Phạm Ngũ Lão, Hoàn Kiếm, Hà Nội) cùng các đơn vị trực thuộc, dựa trên dữ liệu sơ cấp thu thập từ tháng 09/2016 đến tháng 01/2017. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn lớn khi cung cấp luận cứ khoa học giúp ban lãnh đạo tối ưu hóa hiệu suất làm việc của 100% cán bộ công nhân viên, tạo đà tăng trưởng thu nhập bình quân vượt mốc 8,011 triệu đồng/người/tháng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn kết hợp các học thuyết kinh điển về nội dung và quá trình để xây dựng khung phân tích toàn diện. Về nhóm học thuyết nội dung, tác giả kế thừa Tháp nhu cầu của Abraham Maslow gồm 5 bậc nhu cầu từ sinh lý đến tự hoàn thiện, kết hợp cùng Thuyết hai yếu tố của Frederick Herzberg để phân định rõ nhóm yếu tố duy trì (lương thưởng, điều kiện làm việc) và nhóm yếu tố thúc đẩy (sự thừa nhận, cơ hội thăng tiến). Bên cạnh đó, các học thuyết quá trình như Thuyết kỳ vọng của Victor Vroom và Thuyết công bằng của John Stacey Adams được vận dụng nhằm giải thích phản ứng tâm lý của người lao động trước các tiêu chí đãi ngộ.

Nghiên cứu đặc biệt nhấn mạnh mô hình hiệu suất làm việc của Carter và Shelton thông qua công thức toán học: Hiệu suất làm việc bằng tích số giữa Khả năng, Nguồn lực và Động lực. Mô hình chỉ ra rằng dù năng lực và nguồn lực được đảm bảo ở mức tối ưu, nếu động lực bằng không thì hiệu suất công việc cũng triệt tiêu. Ba khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: động lực lao động (sức mạnh nội tại thúc đẩy sự nỗ lực tự nguyện), tạo động lực (hệ thống chính sách và thủ thuật quản trị từ doanh nghiệp), và công cụ tạo động lực (bao gồm đòn bẩy tài chính như tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi và đòn bẩy phi tài chính như bố trí nhân lực, đánh giá thực hiện công việc, đào tạo và môi trường làm việc).

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng phương pháp kết hợp dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, báo cáo quỹ lương giai đoạn 2014-2016 của Tổng công ty và các công trình khoa học trong và ngoài nước. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra xã hội học bằng bảng hỏi khảo sát trực tiếp người lao động từ tháng 09/2016 đến tháng 01/2017.

Cỡ mẫu khảo sát gồm 150 phiếu phát ra, thu về 148 phiếu hợp lệ phục vụ phân tích (bao gồm 5 phiếu từ cán bộ quản lý và 143 phiếu từ công nhân viên). Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo từng phòng ban, bộ phận chuyên môn và công ty thành viên được lựa chọn để đảm bảo tính đại diện cho mọi nhóm vị trí công việc. Toàn bộ dữ liệu khảo sát được xử lý và phân tích thống kê mô tả thông qua phần mềm Microsoft Excel. Phương pháp này được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác mức độ hài lòng của nhân viên theo thang đo Likert 5 mức độ, đồng thời cho phép so sánh chéo giữa các cấp bậc quản lý và lao động trực tiếp, kết hợp với phương pháp tổng hợp, quy nạp và phân tích hệ thống.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, dù quỹ tiền lương của người lao động tăng từ 99,3 tỷ đồng năm 2014 lên 113,6 tỷ đồng năm 2016 (thu nhập bình quân tăng trưởng 27%), mức độ hài lòng chung của người lao động đối với thu nhập chỉ đạt điểm trung bình 2,95/5 theo thang đo Likert, với 36,5% người được hỏi trả lời không hài lòng hoặc rất không hài lòng.

Thứ hai, có sự chênh lệch sâu sắc về mức độ thỏa mãn thu nhập giữa các vị trí việc làm. Nhóm lãnh đạo công ty ghi nhận tỷ lệ hài lòng đạt 75% (điểm trung bình 4,00/5), trong khi nhóm lao động chuyên môn nghiệp vụ đạt 40% (điểm 2,83/5) và khối công nhân trực tiếp có mức độ hài lòng thấp nhất với điểm trung bình chỉ 2,66/5, trong đó có tới 23,7% công nhân khẳng định không hài lòng và rất không hài lòng.

Thứ ba, người lao động đánh giá cao sự minh bạch của quy chế trả lương (điểm 3,63/5 với 38,0% tương đối hài lòng) và tính phù hợp của hình thức chi trả (điểm 4,00/5 với 54,1% tương đối hài lòng). Tuy nhiên, tính công bằng của tiền lương dựa trên kết quả công việc chỉ đạt 3,10/5 điểm, với 35,8% số người tham gia khảo sát đánh giá tiêu cực.

Thứ tư, điều kiện xét tăng lương hiện hành đạt mức điểm thấp 3,01/5, khi có tới 41,2% người lao động bày tỏ sự không đồng tình với các tiêu chuẩn xét nâng bậc chức danh vốn chịu sự ràng buộc khắt khe về thời gian công tác.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của sự bất cập xuất phát từ việc phần lương cơ bản vẫn phụ thuộc vào hệ thống thang bảng lương Nhà nước quy định tại Nghị định 49/2013/NĐ-CP, vốn mang tính chất cào bằng và chưa theo kịp mức độ phức tạp của công việc thực tế. Thêm vào đó, các bản mô tả và phân tích công việc tại doanh nghiệp còn sơ sài, khiến công tác đánh giá xếp loại hàng tháng (Loại A: hệ số 1,1; Loại B: 1,0; Loại C: 0,9) trở nên hình thức. Việc xét tăng lương chủ yếu căn cứ vào quy định giữ bậc tối thiểu 24 tháng thay vì ghi nhận năng lực và thành tích vượt trội.

Kết quả này hoàn toàn tương thích với các nghiên cứu của Buelens và Van den Broeck (2007) về sự thiếu linh hoạt trong đòn bẩy kinh tế tại khu vực doanh nghiệp nhà nước. Trong thực tiễn phân tích, các chỉ số này có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ cột so sánh mức độ hài lòng theo chức danh và bảng phân phối tần số Likert, giúp ban lãnh đạo nhận diện rõ khoảng cách chênh lệch giữa khối quản lý và công nhân tại gần 100 trạm xăng dầu trực thuộc.

Đề xuất và khuyến nghị

Để tạo động lực mạnh mẽ cho người lao động tại Tổng công ty Xăng dầu Quân đội, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp thực thi đồng bộ:

Thứ nhất, tái cấu trúc hệ thống thang bảng lương và định ngạch chức danh. Ban Tổ chức Lao động cần chủ trì rà soát và hoàn thiện bản mô tả công việc cho 100% vị trí việc làm trong quý I/2018. Xây dựng hệ thống trả lương 3P (vị trí, năng lực, kết quả thực hiện công việc), phấn đấu nâng mức độ hài lòng về tính công bằng của tiền lương lên trên 4,2/5 điểm.

Thứ hai, đổi mới cơ chế xét nâng bậc lương và chính sách tiền thưởng. Phòng Tài chính Kế toán phối hợp cùng Ban Giám đốc sửa đổi quy chế nâng bậc, rút ngắn thời hạn xét tăng lương từ 24 tháng xuống 12 tháng đối với những cá nhân đạt thành tích đặc biệt xuất sắc. Đồng thời, dành 30-40% quỹ thưởng để thưởng nóng theo tuần và tháng gắn liền với năng suất bán lẻ xăng dầu, triển khai ngay từ quý II/2018.

Thứ ba, lượng hóa quy trình đánh giá kết quả thực hiện công việc (KPI). Ban Lãnh đạo Tổng công ty phê duyệt bộ chỉ số đánh giá hiệu suất minh bạch từ quý III/2018, bãi bỏ việc chia đều danh hiệu thi đua và đảm bảo 100% nhân viên được phản hồi kết quả đánh giá công khai, tạo cơ sở xét duyệt quy hoạch và thăng tiến công bằng.

Thứ tư, cải thiện điều kiện lao động và chính sách phúc lợi tự nguyện. Công đoàn Tổng công ty phối hợp với Phòng Kỹ thuật Vật tư trang bị 100% dụng cụ bảo hộ đạt tiêu chuẩn phòng cháy chữa cháy, hiện đại hóa cây bơm xăng dầu tại 9 đơn vị thành viên, định kỳ tổ chức khám sức khỏe nghề nghiệp 2 lần/năm cho người lao động tiếp xúc hóa chất trong giai đoạn 2018-2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Một là, Ban lãnh đạo và cán bộ phụ trách nhân sự tại Tổng công ty Xăng dầu Quân đội: Ứng dụng trực tiếp kết quả khảo sát 148 cán bộ công nhân viên để tái thiết lập quy chế chi trả lương thưởng, giải quyết dứt điểm tâm lý chán nản của khối lao động trực tiếp tại gần 100 trạm bán lẻ.

Hai là, các nhà quản lý doanh nghiệp Nhà nước và doanh nghiệp khối lực lượng vũ trang: Tham khảo kinh nghiệm thực tế về lộ trình chuyển đổi mô hình quản trị nhân sự từ cơ chế hành chính cũ sang cơ chế thị trường, tháo gỡ điểm nghẽn trong việc áp dụng thang bảng lương nhà nước.

Ba là, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Quản trị nguồn nhân lực: Kế thừa khung lý thuyết tích hợp giữa mô hình hiệu suất của Carter - Shelton với thang đo Likert 5 mức độ để triển khai các đề tài nghiên cứu thực nghiệm tương tự.

Bốn là, các chuyên gia tư vấn quản trị và tái cấu trúc tổ chức: Khai thác kho số liệu định lượng về mức độ thỏa mãn công việc của hơn 1.200 lao động để thiết kế các gói giải pháp KPI và khung năng lực chuyên sâu cho ngành kinh doanh nhiên liệu trên toàn quốc.

Câu hỏi thường gặp

Thu nhập bình quân của cán bộ nhân viên tại Tổng công ty Xăng dầu Quân đội giai đoạn nghiên cứu là bao nhiêu? Trong giai đoạn 2014-2016, thu nhập bình quân của người lao động tăng từ 8,00 triệu đồng lên 8,011 triệu đồng/tháng (mức tăng trưởng 27%). Tuy nhiên, mức thu nhập có sự chênh lệch lớn khi lương bình quân của cán bộ quản lý đạt khoảng 25,17 triệu đồng/tháng, trong khi người lao động trực tiếp đạt 7,467 triệu đồng/tháng.

Vì sao mức độ hài lòng về tiền lương của công nhân trực tiếp lại đạt điểm số thấp nhất? Theo kết quả khảo sát 148 nhân sự, công nhân trực tiếp có điểm hài lòng tiền lương thấp nhất (2,66/5 với 23,7% không hài lòng) do mức lương cơ bản theo ngạch bậc nhà nước còn thấp, chưa bù đắp tương xứng với môi trường làm việc độc hại ngoài trời, trong khi điều kiện xét tăng bậc lương lại yêu cầu thâm niên tối thiểu 24 tháng.

Hạn chế lớn nhất trong công tác đánh giá thực hiện công việc tại doanh nghiệp là gì? Mặc dù doanh nghiệp đã áp dụng hệ số đánh giá phân loại A (1,1), B (1,0), C (0,9) hàng tháng, nhưng 35,8% người lao động vẫn đánh giá chính sách phân phối chưa công bằng. Nguyên nhân là do thiếu tiêu chí KPI định lượng cụ thể, khiến việc bình xét còn mang nặng tính nể nang, bình quân.

Quy mô mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu trong nghiên cứu được triển khai thế nào? Tác giả đã phát 150 phiếu khảo sát và thu về 148 phiếu hợp lệ từ 5 cán bộ quản lý và 143 nhân viên tại các phòng ban và đơn vị thành viên. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Excel theo phương pháp thống kê mô tả, phân tích tần số và tính điểm trung bình thang đo Likert 5 mức độ.

Đâu là giải pháp cấp bách nhất nhằm kích thích tinh thần làm việc của người lao động? Giải pháp đột phá nhất là rút ngắn chu kỳ xét tăng lương từ 24 tháng xuống 12 tháng cho các cá nhân xuất sắc, kết hợp trích lập 30-40% quỹ thưởng để chi trả lương hiệu quả trực tiếp theo sản lượng xăng dầu tiêu thụ tại từng ca làm việc, giúp người lao động thấy rõ sự gắn kết giữa nỗ lực và thu nhập.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Quang Huy đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu và mang lại nhiều đóng góp quan trọng:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tạo động lực, khẳng định vai trò quyết định của biến số động lực trong mô hình hiệu suất làm việc.
  • Định lượng hóa chính xác thực trạng mức độ hài lòng của 148 lao động, chỉ rõ sự phân hóa sâu sắc giữa 75% lãnh đạo hài lòng và 23,7% công nhân không hài lòng về thu nhập.
  • Làm sáng tỏ các rào cản nội tại trong hệ thống thang bảng lương Nhà nước và chu kỳ xét tăng lương thâm niên 24 tháng kéo dài.
  • Xây dựng 4 nhóm giải pháp khả thi với lộ trình triển khai chi tiết từ năm 2018 đến năm 2020, hướng tới mục tiêu nâng chỉ số hài lòng đãi ngộ lên trên 4,2/5 điểm.
  • Đóng góp nguồn tư liệu thực tiễn quý giá cho công tác quản trị nhân lực tại gần 100 trạm xăng dầu và hệ thống doanh nghiệp quân đội trên toàn quốc.

Các nhà quản lý và chuyên gia nhân sự hãy áp dụng ngay các khuyến nghị từ nghiên cứu này để hoàn thiện chính sách đãi ngộ 3P, khơi dậy tối đa tiềm năng và sự tận hiến của người lao động trong giai đoạn phát triển mới.