CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được biết đến như một trong những yếu tố làm nên rất nhiều lợi ích cho doanh nghiệp như tăng doanh số, lợi nhuận, giảm tỉ lệ thôi việc hay mở rộng cơ hội phát triển thị trường. Trên thực tế kinh doanh, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một khái niệm không mới và ở trên bình diện thế giới thì từ những năm của thập niên 1980, CSR đã trở thành một chiến lược quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi công ty. Từ đó tới nay, CSR đã dần chứng tỏ được vai trò lớn lao của mình đối với sự phát triển chung của doanh nghiệp cũng như sự hài hòa với lợi ích của xã hội. Chính vì thế, khái niệm CSR đang ngày một được sự quan tâm, cũng như được đầu tư nhiều hơn từ phía các doanh nghiệp.
Một số khái niệm liên quan tới trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) Tại Việt Nam, kể từ khi xảy ra một số vụ việc gây xôn xao dư luận như công ty Vedan Việt Nam bức tử sông Thị Vải, nước tương nhiễm 3-MCPD hay sữa nhiễm độc chất melamine. Kể từ đó, dư luận ngày một quan tâm và bàn bạc nhiều hơn về cụm từ trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc kinh doanh đối với môi trường cũng như người tiêu dùng. Để nói tới vấn đề liên quan tới trách nhiệm trong kinh doanh của doanh nghiệp, cộng đồng thế giới cùng thống nhất một cụm từ chung, đó là “Corporate Social Responsibility – trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp” Trên thực tế, có rất nhiều khái niệm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR). Điều này phụ thuộc vào cách nhìn nhận của mỗi công ty, chính phủ dựa trên điều kiện, đặc điểm và trình độ phát triển của mỗi đối tượng.
Keith Davies (1973) đưa ra một khái niệm khá rộng: ”CSR là sự quan tâm và phản ứng của doanh nghiệp với các vấn đề vượt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu, pháp lý, công nghệ”. Carroll (1999) cho rằng CSR còn có phạm vi lớn hơn “là tất cả những vấn đề pháp lý, kinh tế, đạo đức và những lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi ở doanh nghiệp trong những thời điểm nhất định”. Trong khi đó, theo Matten và Moon (2004): “CSR là một khái niệm bao trùm các khái niệm khác như đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp làm từ thiện, công dân doanh nghiệp, tính bền vững và trách nhiệm môi trường. Đó là một khái niệm động và luôn được thử thách trong từng hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội đặc thù”.
Như vậy, chúng ta phần nào thấy được bản chất của CSR và trong luận văn này tác giả quyết định lấy quan điểm chính thức của Hội đồng doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững – World Business Council for Sustainable Development (WBCSD) làm để làm bật lên bản chất của CSR, đó là: “CSR là cam kết liên tục của doanh nghiệp đối với đạo đức kinh doanh và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, trong khi đó cải thiện chất lượng cuộc sống của người lao động và gia đình họ cũng như của cộng đồng và xã hội”. Lý do tác giả chọn quan điểm này để minh họa cho khái niệm CSR vì WBCSD là một tổ chức nghiêm túc trong thúc đẩy CSR trong các doanh nghiệp thành viên và quan điểm này cũng được giới khoa học đánh giá cao. Đồng thời, cũng có rất nhiều định nghĩa khác về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp: Theo liên minh châu Âu: “Một khái niệm theo đó các công ty tích hợp vấn đề xã hội và môi trường trong hoạt động kinh doanh của họ và trong sự tương tác của họ với các bên liên quan trên cơ sở tự nguyện” (www.org) Định nghĩa khác về trách nhiệm xã hội (BSR) “CSR đề cập đến các công ty đạt được thành công thương mại theo những cách nhằm tôn vinh giá trị đạo đức và tôn trọng nhân dân, cộng đồng và môi trường tự nhiên” (www.org/AdvisoryServices /CSR.cfm) 123doc 12 Ba định nghĩa trên là những thuật ngữ phổ biến về hoạt động và trách nhiệm xã hội và môi trường. Hơn nữa, nó chỉ dẫn cách thức một công ty nên lồng ghép tác động môi trường và xã hội vào hoạt động kinh doanh của họ.
Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ thảo luận cụ thể hơn trách nhiệm xã hội cũng như ba cốt lõi.2 Kim tự tháp CSR Quan điểm “Làm tốt để làm tốt” là quan điểm cũ về CSR (Vogel, 2005). Theo quan điểm này, các công ty sử dụng CSR để gây dựng danh tiếng của doanh nghiệp thông qua các hoạt động từ thiện, vì vậy, nó chỉ tập trung chủ yếu vào đỉnh của kim tự tháp CSR. Theo như hình 1 trình bày về kim tự tháp CSR, Caroll (1991) đã phát triển kim tự tháp về trách nhiệm xã hội gồm 4 mức độ khác nhau: kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện (theo chiều từ dưới lên trên). Theo hình 1 thì “trách nhiệm kinh tế” là mức mà các tổ chức kinh doanh tạo ra để cung cấp hàng hóa và dịch vụ trong xã hội, nó cũng cung cấp các dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong một khoản lợi nhuận nhất định.
Mức độ tiếp theo được gọi là “trách nhiệm pháp lý”, trong đó kinh doanh là để đi cùng với các luật và quy định hiện hành, cũng như chính quyền địa phương để thực hiện các hợp đồng xã hội giữa doanh nghiệp và xã hội nhằm đáp ứng tối thiểu các yêu cầu pháp lý. Mức thứ ba của kim tự tháp là “trách nhiệm đạo đức” liên quan đến các khía cạnh trong vận hành kinh doanh bảo đảm sự công bằng, công lý và trách nhiệm đạo đức và các hành động này liên quan chặt chẽ với các khía cạnh và mong đợi của các thành viên trong xã hội. Hầu hết các công ty có sự quan tâm cao về CSR đều cố gắng thực hành “trách nhiệm đạo đức” với mức độ mong đợi cao thậm chí cao hơn yêu cầu của pháp luật. “Trách nhiệm đạo đức” được coi là nhân viên tổng thể, các cổ đông, và cộng đồng để giữ quyền và công bằng đối với tất cả các bên liên quan.
Đỉnh của kim tự tháp được gọi là “Trách nhiệm từ thiện” trong đó nhấn mạnh vào hành động tổng thể của công ty. Công ty có trách nhiệm đối với các mong đợi của xã hội để dần trở thành công dân doanh nghiệp tốt trong khi thúc đẩy thiện chí và phúc lợi của con người, chẳng hạn như những đóng góp cho nghệ thuật, giáo 123doc 13 dục, hoặc cộng đồng. Quá trình này là rất quan trọng để các nhà quản lý và nhân viên tham gia hoạt động tình nguyện và từ thiện trong cộng đồng (Carroll AB, 1991). Trờ thành công dân Trách nhiệm Đóng góp công đồng, cải doanh nghiệp tốt từ thiện thiện chất lượng cuộc sống Trách nhiệm Làm đúng, công bằng, Có đạo đức không gây hại đạo đức Trách nhiệm Luật pháp là những Tuân thủ pháp luật pháp lý điều lệ của xã hội Trách nhiệm Là nền tảng của tất cả Đạt được lợi nhuận cách trách nhiệm trên kinh tế Hình 1: Kim tự tháp Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (Nguồn: Carroll, 1991) Dựa theo mô hình này, CSR bao gồm trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện.
Cụ thể như sau: - Trách nhiệm kinh tế: tối đa hóa lợi nhuận, nâng cao tính cạnh tranh, hiệu quả kinh doanh và tăng trưởng là những điều kiện tiên quyết. Điều này là đương nhiên bởi doanh nghiệp được thành lập trước hết vì mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận của doanh nhân. Bên cạnh đó, doanh nghiệp là một thành tố cấu tạo nên xã hội, do vậy chức năng kinh doanh cần được ưu tiên và đặt lên hàng đầu. Cũng có thể nói rằng trách nhiệm kinh tế là yếu tố nền tảng và các trách nhiệm còn lại đều phải dựa trên trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp.
- Trách nhiệm pháp lý: hay còn được gọi là trách nhiệm tuân thủ pháp luật chính là một phần của bản cam kết giữa doanh nghiệp và xã hội. Nhà nước có trách nhiệm mã hóa những quy tắc, chuẩn mực đạo đức, xã hội vào các văn bản pháp luật. Doanh nghiệp, dựa trên cơ sở đó, sẽ theo đuổi các mục tiêu về kinh tế của mình dựa trên những chuẩn mực, quy tắc trong các bộ luật được ban hành. Cùng với trách 123doc 14 nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý là hai bộ phận nền tảng, cơ bản nhất và không thể thiếu đối với CSR.
- Trách nhiệm đạo đức: đây là những chuẩn mực, quy tắc được xã hội thừa nhận nhưng chưa có mặt trong các văn bản luật. Trên thực tế, những chuẩn mực xã hội luôn biến đổi và vì thế những chính sách pháp luật chỉ có thể theo sau trong quá trình biến đổi này. Do đó, pháp luật không thể phản ánh hết những đòi hỏi về những quy tắc ứng xử của xã hôi. Vì vậy, trách nhiệm thực hiện đúng luật pháp là đòi hỏi tối thiểu với doanh nghiệp.
Ngoài ra, doanh nghiệp còn cần phải thực hiện những nghĩa vụ, quy tắc ngoài luật hay chính là trách nhiệm đạo đức. Việc thực hiện trách nhiệm đạo đức là tự nguyện đối với mọi doanh nghiệp nhưng lại có vai trò trung tâm đối với CSR (ví dụ như việc thực hiện ngày nghỉ cuối tuần, tiền cho nhân công làm thêm ca, uy tín đối với đối tác, quan hệ tốt với khách hàng…). - Trách nhiệm từ thiện: là những hoạt động của doanh nghiệp đã vượt qua sự kỳ vọng của xã hội. Một số ví dụ như trao quà cho trẻ mồ côi, tài trợ học bổng cho học sinh, sinh viên,… Trách nhiệm từ thiện khác trách nhiệm đạo đức ở chỗ, doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm này “hoàn toàn tự nguyện”.
Nếu doanh nghiệp không thực hiện CSR tới mức độ này thì họ vẫn được coi là đã hoàn thiện đầy đủ trách nhiệm với xã hội. Bên cạnh những phân tích về nội dung của mô hình trên, nó cũng được đông đảo học giả đưa ra rất nhiều đánh giá tích cực: - Có tính toàn diện và khả thi cao. Mô hình này có thể được áp dụng trong việc xây dựng khuôn khổ chính sách về CSR của nhà nước. - Việc đặt trách nhiệm kinh tế làm nền tảng đã làm thỏa mãn nhu cầu về lý thuyết đại diện trong quản trị doanh nghiệp.
Đồng thời, việc làm này còn giúp xóa đi những hoài nghi về tính trung thực trong những chương trình CSR của doanh nghiệp. Cũng vì vậy, nó xóa đi ranh giới của việc thực hiện CSR là “vì mình” hay “vì người”, khiến hai mục đích này là không thể tách rời.