Chương 1 đã nêu lên tính cấp thiết của việc thực hiện nghiên cứu, trình bày các nội dung về mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu cũng như đối tượng và phạm vi, phương pháp và những đóng góp bên cạnh kết cấu 5 chương của luận án. 9 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ tiến tới giới thiệu các cơ sở lý thuyết và những lý thuyết nền liên quan đến vấn đề nghiên cứu, tiến hành lược khảo những tài liệu liên quan ở cả trong và ngoài nước phát hiện những khoảng trống, từ đó, các giả thuyết cùng với mô hình đề xuất được biện luận.1 CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 2.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Điều 5, Nghị định 80/2021/NĐ-CP được Chính phủ ban hành năm 2021, DNNVV được xác định thông qua các tiêu chí trình bày ở Bảng 2. Theo đó, DNNVV được xác định theo các tiêu chí về số lượng lao động, vốn và doanh thu theo từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa Lĩnh vực Nông, lâm, thủy sản, công Thương mại, dịch vụ nghiệp, xây dựng Lao động Tổng Tổng Lao động Tổng Tổng tham gia doanh nguồn tham gia bảo doanh nguồn bảo hiểm xã thu/ vốn/ hiểm xã hội thu/ vốn/ hội bình năm năm bình quân/ năm năm quân/ năm năm Doanh nghiệp < 10 người < 3 tỷ < 3 tỷ < 10 người < 10 tỷ < 3 tỷ siêu nhỏ Doanh nghiệp < 100 người < 50 tỷ < 20 tỷ < 50 người < 100 tỷ < 50 tỷ nhỏ Doanh < 200 < 100 < 200 người < 100 tỷ < 100 người < 300 tỷ nghiệp vừa tỷ tỷ (Nguồn: Chính phủ, 2021) 10 2.2 Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 2.1 Khái niệm Theo Bowen (1953), “trách nhiệm xã hội doanh nghiệp CSR là nghĩa vụ của doanh nghiệp để theo đuổi các chính sách, ra các quyết định hoặc thực hiện các hoạt động được xã hội mong đợi xét ở khía cạnh mục tiêu và giá trị”.
Tiếp theo đó, Beyer (1972) và Drucker (1974) nhận định, “trách nhiệm xã hội CSR chính là việc doanh nghiệp phải thực hiện hoạt động xã hội nhằm tạo ra phúc lợi cho cộng đồng vì các doanh nghiệp kiếm được lợi nhuận từ cộng đồng sẽ làm giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên của xã hội. Doanh nghiệp phải có trách nhiệm duy trì môi trường và các nguồn tài nguyên khác cũng như cải thiện mức sống cho xã hội”. Tiếp đến, Carroll (1979) khái quát, “trách nhiệm xã hội CSR là trách nhiệm xã hội xung quanh doanh nghiệp về kinh tế, luật pháp, đạo đức cũng như trách nhiệm đáp ứng sự kỳ vọng của xã hội”. Gần đây là tiếp đến những quan điểm trong thời hiện đại.
Moon và Matten (2004) cho rằng, “trách nhiệm xã hội CSR bao gồm các khía cạnh liên quan đến đạo đức kinh doanh, hoạt động từ thiện, hành vi công dân trong tổ chức, phát triển bền vững cũng như trách nhiệm của doanh nghiệp đối với môi trường”. Turker (2008) thì cho rằng, “trách nhiệm xã hội CSR doanh nghiệp là hành vi của tổ chức nhằm tạo ra các phản ứng tích cực của các bên liên quan và các phản ứng này vượt ra ngoài lợi ích về kinh tế của tổ chức. Turker chia các bên liên quan làm bốn nhóm gồm (1) trách nhiệm đối với xã hội, môi trường tự nhiên, thế hệ tiếp theo cùng các tổ chức phi chính quyền, (2) trách nhiệm với nhân viên, (3) trách nhiệm với người tiêu dùng và (4) trách nhiệm đối với chính phủ Turker nhận định, trách nhiệm xã hội. CSR doanh nghiệp là những hoạt động tích cực của tổ chức với các bên liên quan.
Bao gồm các hoạt động về cải thiện chất lượng sản phẩm, quan tâm đến người lao động, cải thiện chất lượng cuộc sống, chấp hành luật pháp hay giúp đỡ chính quyền giải quyết những vấn đề xã hội”. Vitaliano (2010) xác định, “trách nhiệm xã hội CSR là hành động tự nguyện của doanh nghiệp, thông qua đó nâng cao điều kiện xã hội hoặc môi trường. Vitaliano 11 còn nhận định rằng, các đối tượng liên quan tới doanh nghiệp thường đề cao trách nhiệm xã hội đối với những vấn đề về xã hội, môi trường, nhân quyền, giới tính hơn so với lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp và cổ đông. Và đó là một trong những tiêu chí đánh giá để thu hút, tuyển dụng và đánh giá mức độ trung thành của nhân viên đối với tổ chức”.2 Thành phần Do có khá nhiều định nghĩa về CSR, cho nên các thành phần cấu thành cũng được phân tích ở nhiều phương diện, khía cạnh.
Các tác giả đề xuất những ý kiến, quan niệm khác nhau về những thành phần thuộc CSR. Salmones và các cộng sự (2005) nhận thấy, “trách nhiệm xã hội CSR doanh nghiệp được thể hiện qua ba thành phần, gồm: trách nhiệm về kinh tế, pháp luật – đạo đức (tuân thủ quy tắc đạo đức lẫn pháp luật trong kinh doanh) và trách nhiệm về thiện nguyện (cải thiện môi trường, tổ chức các sự kiện xã hội cũng như đóng góp một phần ngân sách cho việc cải thiện an sinh xã hội)”. Tác giả Mohr và Webb (2005) cho thấy, “trách nhiệm xã hội CSR doanh nghiệp bao gồm hai thành phần là: trách nhiệm về môi trường (giảm thiểu tác động của doanh nghiệp tới môi trường, sử dụng nguyên liệu có thể tái chế, thân thiện với môi trường, có chương trình nhằm tiết kiệm nguồn nước và năng lượng) cũng như trách nhiệm về thiện nguyện (thường xuyên đóng góp từ thiện, có các chương trình cho nhân viên tham gia hoạt động thiện nguyện, và tặng một số sản phẩm của doanh nghiệp cho những người thực sự khó khăn)”. Trong những mô hình thành phần được công bố, cho đến hiện tại, 4 thành phần CSR của Carroll (1991) vẫn đảm bảo bao quát đầy đủ các giá trị trong thời điểm hiện tại (Hình 2.
Cụ thể là: “(1) Trách nhiệm kinh tế (Economic Responsibility), nghĩa là 12 doanh nghiệp có nghĩa vụ tạo ra lợi nhuận, cung cấp việc làm cũng như làm ra sản phẩm/dịch vụ khách hàng cần; (2) Trách nhiệm luật pháp (Legal Responsibility), nghĩa là doanh nghiệp có nghĩa vụ tuân thủ luật lệ và luật pháp của địa phương, của quốc gia sở tại và cả luật quốc tế trong quá trình hoạt động; (3) Trách nhiệm đạo đức (Ethical Responsibility), nghĩa là doanh nghiệp cần đáp ứng các chuẩn mực, kỳ vọng khác của xã hội và cả những điều không được ghi trong luật, cụ thể hơn là trách nhiệm đáp ứng văn hóa, chuẩn mực và kỳ vọng của các bên liên quan bao gồm khách hàng, nhân viên, cổ đông và cộng đồng; (4) Trách nhiệm từ thiện/nhân đạo (Philanthropic Responsibility), nghĩa là doanh nghiệp cần đáp ứng các kỳ vọng từ xã hội, doanh nghiệp như là những công dân tốt”. ch m n/nhân o t doanh p t, ng p cho ng ng, giúp i n t ng c ng ch m o c c eo ữ ề c xem công ng, ng n và p ch m p t o t ng theo p t ch m kinh ền ng a c o i ch m i Hình 2. Các thành phần của trách nhiệm xã hội (Nguồn: Carroll, 1991) Đã có nhiều định nghĩa cũng như các thành phần CSR được đề cập và phân tích bởi các tác giả như Moon và Matten (2004), Salmones (2005), Mohr và Webb (2005), Olsen và cộng sự (2006), Turker (2008), Vitaliano (2010). Tuy nhiên, tác giả đánh giá cao tính bao quát cũng như khả năng ứng dụng và phổ biến các thành phần của Carroll (1991).2 thống kê thêm các thành phần CSR.
Từ đó, trong phạm vi nghiên cứu hiện tại, tác giả đồng tình và sử dụng khái niệm được đề xuất bởi Turker (2008), theo đó “CSR liên quan đến 4 thành phần là 13 trách nhiệm với nhân viên, trách nhiệm với người tiêu dùng (khách hàng), trách nhiệm đối với môi trường xung quanh và trách nhiệm đối với cộng đồng địa phương”. Tổng hợp các thành phần CSR Thành phần trách Carroll Moon Mohr Salmo Olsen và Turker nhiệm xã hội CSR (1991) và và nes cộng sự (2008) Matten Webb (2005) (2006) (2004) (2005) Kinh tế + + Pháp luật/pháp lý + + Đạo đức + + + Từ thiện/nhân đạo + + + + Môi trường + + + + Nhận biết thương + hiệu Động lực công ty + Uy tín công ty + Quyền công dân + + Nhân viên + Người tiêu dùng + Chính quyền + Phát triển bền vững + (Nguồn: Tổng hợp của tác giả, 2023) 2.3 Lợi ích Doanh nghiệp trước khi triển khai các hoạt động hướng đến CSR cần có các biện pháp xác định những chi phí cần thiết bên cạnh những nguồn giá trị lợi ích về lâu dài có thể thu nhận. Các doanh nghiệp đầu tư nguồn tài chính của chính mình để thực hiện các hoạt động CSR với kỳ vọng tối đa hóa những nguồn lợi nhuận (ở cả mức độ tiềm năng) và hạn chế cực tiểu những rủi ro có thể gặp phải. Tsoutsoura (2004) nhận thấy, “Trách nhiệm xã hội là đạt được những lợi ích cốt lõi để có được sự phát triển bền vững”.
Sự lợi ích của CSR được phân tích dựa trên những quan điểm về kinh tế - xã hội như sau. 14 Greening và Turban (2000), Jenkins (2005) đã phân tích “những nguồn lợi ích hữu hình bên cạnh những giá trị lợi ích vô hình từ khi thực hiện CSR. Lợi ích vô hình có giá trị lớn nhất trong trường hợp thực hiện CSR mà ít khi được công nhận và nhận ra là cải thiện động lực của người nhân viên và tăng cường hình ảnh thương hiệu của tổ chức”. Jenkins (2005) kết luận rằng, “hình ảnh thương hiệu và uy tín của các doanh nghiệp thực hiện hoạt động trách nhiệm xã hội thì cao hơn so với doanh nghiệp không thực hiện các hoạt động này.
Hình ảnh thương hiệu và uy tín cho phép các doanh nghiệp tăng vốn, thu hút và giữ chân khách hàng, đối tác kinh doanh”. Turban và Greening (1997) kết luận về việc các doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội sẽ có ít rủi ro liên quan đến các sự kiện tiêu cực. Kết quả của việc này là “sẽ có sự cam kết mạnh mẽ về việc thực hiện trách nhiệm xã hội, làm tăng khả năng thu hút và giữ chân nhân tài cho tổ chức. Nó giúp cắt giảm các chi phí tuyển dụng, đào tạo và phát triển”.
Tsoutsoura (2004) lại có kết luận về hiệu quả hoạt động, theo đó “thực hành trách nhiệm xã hội dẫn đến tăng năng suất và giảm tỷ lệ lỗi, giúp giảm chi phí vận hành doanh nghiệp. Lợi ích này còn giúp gia tăng sự hài lòng của các bên liên quan. Cùng với việc cải thiện hiệu năng, tăng năng suất là việc cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động”.