Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ với đề tài "Ảnh hưởng của văn hóa tổ chức tới kết quả hoạt động của các doanh nghiệp dệt may ở Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Đức Hòa, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Thành Độ tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, 2022). Luận án thuộc chuyên ngành Quản trị doanh nghiệp (mã số: 9340101), ngành Quản trị kinh doanh.

Thông số Nội dung chi tiết
Tên đề tài Ảnh hưởng của văn hóa tổ chức tới kết quả hoạt động của các doanh nghiệp dệt may ở Việt Nam
Tác giả & Người hướng dẫn NCS. Nguyễn Đức Hòa; GS. Nguyễn Thành Độ (Người hướng dẫn khoa học)
Cơ sở đào tạo & Năm bảo vệ Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU), Hà Nội, 2022
Chuyên ngành & Mã số Quản trị doanh nghiệp, Mã số: 9340101 (Ngành Quản trị kinh doanh)
Hướng tiếp cận nghiên cứu Phương pháp hỗn hợp (Định tính kết hợp định lượng bằng mô hình PLS-SEM)

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bối cảnh đại dịch COVID-19 đã làm nền kinh tế thế giới rơi vào trạng thái khủng hoảng trầm trọng kể từ năm 1930 và gây gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu. Tại Việt Nam, ngành dệt may đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đóng góp gần 20% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Năm 2021, xuất khẩu dệt may đạt 39 tỷ USD (tăng 11,2% so với năm 2020), duy trì xuất siêu năm thứ 6 liên tiếp (~4 tỷ USD). Mặc dù nằm trong nhóm các quốc gia sản xuất và xuất khẩu dệt may hàng đầu thế giới, thị phần dệt may Việt Nam vẫn chưa có sự cải thiện rõ rệt và chịu sự phụ thuộc lớn vào việc nhập khẩu nguyên phụ liệu.

Trước môi trường làm việc biến động khó dự đoán, các mô hình quản lý truyền thống không còn bảo đảm hiệu quả hoạt động. Nguồn lực tạo dựng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp chuyển dần từ sản phẩm, giá cả và quảng cáo sang các yếu tố nội bộ, trong đó văn hóa tổ chức (VHTC) đóng vai trò nền tảng. Tuy nhiên, tại các nước đang phát triển như Việt Nam, số lượng công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa VHTC và kết quả hoạt động còn hạn chế. Đặc thù của ngành dệt may Việt Nam là quy mô chủ yếu gồm các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), chủ yếu gia công theo đơn hàng xuất khẩu, khiến các yếu tố đặc thù ngành chi phối trực tiếp đến VHTC và hiệu quả hoạt động. Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là việc thiếu vắng các kiểm định thực nghiệm về cơ chế tác động gián tiếp của VHTC thông qua các biến trung gian (đổi mới môi trường, năng lực động) và cơ chế điều tiết (quy mô doanh nghiệp) đối với kết quả hoạt động trong ngành dệt may.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là đánh giá ảnh hưởng của văn hóa tổ chức tới kết quả hoạt động của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, từ đó đề xuất các hàm ý quản trị. Để đạt mục tiêu tổng quát, luận án thực hiện 6 mục tiêu cụ thể:

  1. Hệ thống khung lý thuyết về văn hóa tổ chức và kết quả hoạt động.
  2. Xây dựng mô hình ảnh hưởng của VHTC tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp.
  3. Đánh giá thực trạng nhận thức của các doanh nghiệp ngành dệt may tại Việt Nam về VHTC.
  4. Đánh giá thực trạng mức độ ảnh hưởng của VHTC tới kết quả hoạt động của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam.
  5. Kiểm định vai trò trung gian và vai trò điều tiết trong mối quan hệ giữa VHTC và kết quả hoạt động.
  6. Đề xuất giải pháp và khuyến nghị nhằm xây dựng VHTC trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Khung lý thuyết về VHTC và kết quả hoạt động là như thế nào?
  2. Mô hình đánh giá ảnh hưởng của VHTC tới kết quả hoạt động là như thế nào?
  3. Thực trạng nhận thức về VHTC của các doanh nghiệp dệt may là như thế nào?
  4. Mức độ tác động của VHTC tới kết quả hoạt động của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam là như thế nào?
  5. Những nhân tố nào có vai trò trung gian và điều tiết trong mối quan hệ giữa VHTC và kết quả hoạt động và mức độ ảnh hưởng như thế nào?
  6. Các giải pháp và khuyến nghị nhằm xây dựng VHTC cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam là như thế nào?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Văn hóa tổ chức và kết quả hoạt động của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Đánh giá mối quan hệ giữa VHTC, năng lực động, đổi mới môi trường, quy mô doanh nghiệp và kết quả hoạt động (tài chính và phi tài chính).
  • Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp dệt may đang hoạt động trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam (khu vực miền Bắc, miền Trung, miền Nam).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn 2017–2021. Số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2018 đến 2021; số liệu sơ cấp được thu thập trong hai năm 2020–2021 (giai đoạn định tính từ tháng 9/2020 đến tháng 10/2020; giai đoạn định lượng sơ bộ tháng 11/2020; giai đoạn định lượng chính thức từ tháng 12/2020 đến tháng 3/2021).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trước đây

Luận án tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu xoay quanh các khái niệm và mối quan hệ chính:

  • Các nghiên cứu về văn hóa tổ chức: Luận án điểm lại định nghĩa kinh điển của Tylor (1871), quan điểm của Edgar Schein (2000, 2004) về ba tầng văn hóa, Kotter & Heskett (1992), Williams và cộng sự (1993), Sagiv & Schwartz (2007), Warrick (2017), Acar & Acar (2012). Tại Việt Nam, tác giả điểm lại quan điểm của Phạm Xuân Nam (2011), Đỗ Minh Cương (2019), Trương Thị Hương Xuân & Nguyễn Khắc Hoàn (2019). Về các mô hình đo lường VHTC, tác giả tổng thuật mô hình 4 lớp biểu trưng của Hofstede (1980), mô hình hồ sơ văn hóa OCP gồm 54 câu hỏi của O'Reilly và cộng sự (1991), phương pháp OCI của Cooke & Lafferty (1987), mô hình DOCS gồm 12 giá trị thuộc 4 nhóm của Denison (1990), và mô hình Khung giá trị cạnh tranh của Cameron & Quinn (1999, 2011) kế thừa qua Rosario và cộng sự (2017).
  • Các nghiên cứu về kết quả hoạt động doanh nghiệp: Khái niệm kết quả hoạt động được tổng hợp từ góc nhìn của Adam Smith (1993), Robbins & Coulter (1996), Motowidlo & van Scotter (1994), Maltz (2003), Cascio (2006), Rogers và cộng sự (1998), Nazarian và cộng sự (2017), Nikpour (2017), Irawan và cộng sự (2019), Nguyễn Thế Hùng (2012), Nguyễn Thành Độ (2012). Về thước đo, tác giả điểm lại các chỉ số tài chính (ROI, ROA, ROE, Tobin's Q) theo Chakravarthy (1986), Cameron (1986), Cho & Pucik (2005), Hu & Izumida (2008), Bauer và cộng sự (2004), Wagner (2009), Bisbe & Malagueño (2012), Gimbert và cộng sự (2010), Hult và cộng sự (2008) kết hợp với các thước đo phi tài chính (sự hài lòng của khách hàng, chất lượng sản phẩm, tỷ lệ giữ chân lao động).
  • Mối quan hệ giữa VHTC và kết quả hoạt động: Mối liên hệ thuận chiều được ghi nhận trong các công trình của Sadri & Lees (2001), Chen Rose và cộng sự (2008), Yilmaz & Ergun (2008), Zhang và cộng sự (2008), Flamholtz & Randle (2012), Wilderom & Berg (2012), Fusch & Gillespie (2012), Childress (2013), Uddin và cộng sự (2013), Irefin & Mechanic (2014), O'Reilly và cộng sự (2014), Unger và cộng sự (2014), De Waal và cộng sự (2015), Com & Nikpour (2017).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù mối quan hệ giữa VHTC và kết quả hoạt động đã được nhiều học giả khẳng định, phần lớn nghiên cứu được tiến hành tại các nền kinh tế phát triển. Luận án chỉ ra khoảng trống về việc thiếu vắng các kiểm định đồng thời các yếu tố trung gian và yếu tố điều tiết trong bối cảnh các doanh nghiệp sản xuất dệt may tại Việt Nam – một ngành chịu áp lực lớn về tiêu chuẩn môi trường xanh và chi phí lao động tăng cao trong bối cảnh các hiệp định thương mại như CPTPP và EVFTA đi vào thực thi.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án tích hợp các nền tảng lý thuyết quản trị hiện đại:

  • Lý thuyết văn hóa tổ chức (Khung giá trị cạnh tranh - CVF): Dựa trên mô hình của Cameron & Quinn (1999, 2011), VHTC được phân tích thành biến cấu tạo bậc hai (second-order factor) gồm 4 khía cạnh: Văn hóa gia đình (clan culture), Văn hóa sáng tạo (adocracy culture), Văn hóa thứ bậc (hierarchy culture), và Văn hóa thị trường (market culture).
  • Lý thuyết năng lực động (Dynamic Capabilities Theory): Kế thừa từ Coulter (2002), Rubio-Bañón & Aragón-Sánchez (2008), năng lực động được mô hình hóa là biến cấu tạo bậc hai gồm: Năng lực chiến lược, Năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D), và Năng lực quản lý.
  • Lý thuyết đổi mới môi trường (Eco-innovation / Green Innovation): Dựa trên nghiên cứu của Zhongju Liao (2018), đổi mới môi trường là biến cấu tạo bậc hai gồm: Đổi mới tổ chức sinh thái, Đổi mới quá trình sinh thái, và Đổi mới sản phẩm sinh thái.
  • Lý thuyết kết quả hoạt động: Đánh giá tổng hợp trên cả hai khía cạnh tài chính (doanh thu, lợi nhuận, ROA, ROE) và phi tài chính (chất lượng, sự thỏa mãn của khách hàng, năng suất lao động, đóng góp xã hội).
Biến nghiên cứu Bản chất biến Các thành phần cấu tạo / Tiêu chí đo lường Nguồn gốc kế thừa
Văn hóa tổ chức (VHTC) Độc lập (Bậc 2) Văn hóa gia đình (CC), Văn hóa thứ bậc (HC), Văn hóa thị trường (MC), Văn hóa sáng tạo (AC) Cameron & Quinn (2011), Rosario và cộng sự (2017)
Đổi mới môi trường Trung gian (Bậc 2) Đổi mới tổ chức sinh thái, Đổi mới quá trình sinh thái, Đổi mới sản phẩm sinh thái Zhongju Liao (2018)
Năng lực động Trung gian (Bậc 2) Năng lực chiến lược, Năng lực R&D, Năng lực quản lý Coulter (2002), Rubio-Bañón & Aragón-Sánchez (2008)
Kết quả hoạt động Phụ thuộc Hiệu quả tài chính (lợi nhuận, doanh thu) và hiệu quả phi tài chính (khách hàng, uy tín) Hult và cộng sự (2008), Bisbe & Malagueño (2012)
Quy mô doanh nghiệp Điều tiết Số lượng lao động, quy mô vốn/doanh thu của doanh nghiệp Tổng hợp từ nghiên cứu thực nghiệm

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu

Mã giả thuyết Nội dung giả thuyết
H1 Có tác động tích cực từ văn hóa tổ chức tới kết quả hoạt động
H2 Có tác động tích cực từ đổi mới môi trường tới kết quả hoạt động
H3 Có tác động tích cực từ năng lực động của doanh nghiệp tới kết quả hoạt động
H4 Có tác động tích cực từ văn hóa tổ chức tới đổi mới môi trường
H5 Có tác động tích cực từ văn hóa tổ chức tới năng lực động của doanh nghiệp
H6a Đổi mới môi trường có vai trò trung gian giải thích tác động từ văn hóa tổ chức tới kết quả hoạt động
H6b Năng lực động của doanh nghiệp có vai trò trung gian giải thích tác động từ văn hóa tổ chức tới kết quả hoạt động
H7 Quy mô doanh nghiệp điều tiết tác động từ văn hóa tổ chức tới kết quả hoạt động

Phương pháp nghiên cứu và quy trình thực hiện

Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp qua 3 giai đoạn:

[Giai đoạn 1: Tổng quan nghiên cứu]
[Giai đoạn 2: Nghiên cứu định tính]
(Phỏng vấn sâu & phỏng vấn nhóm, NVivo; 1/9/2020 - 30/10/2020)
[Giai đoạn 3: Nghiên cứu định lượng]
[Phân tích mô hình PLS-SEM trên SmartPLS 3.3 & SPSS 23]
  • Nghiên cứu định tính: Thực hiện từ 1/9/2020 đến 30/10/2020 thông qua phỏng vấn sâu và phỏng vấn nhóm tập trung với lãnh đạo cấp cao (giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng), lãnh đạo cấp trung (trưởng phòng, quản đốc) tại các doanh nghiệp dệt may quy mô lớn, vừa và nhỏ trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam và các chuyên gia học thuật. Thời gian mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài từ 90 đến 130 phút. Dữ liệu âm thanh được xử lý, mã hóa qua phần mềm NVivo nhằm hiệu chỉnh thang đo, ngôn ngữ bảng hỏi phù hợp với ngành dệt may.
  • Nghiên cứu định lượng: Sử dụng thang đo khoảng cách Likert 5 điểm (1: Hoàn toàn không đồng ý đến 5: Hoàn toàn đồng ý). Giai đoạn sơ bộ (1/11/2020 - 30/11/2020) phân bổ 160 phiếu, thu về 147 phiếu hợp lệ. Giai đoạn chính thức (1/12/2020 - 1/3/2021) phát 750 phiếu trực tiếp và qua thư điện tử, thu về 676 phiếu và giữ lại 556 phiếu khảo sát hợp lệ.
  • Kỹ thuật xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm SPSS 23 và SmartPLS 3.3. Phân tích mô hình đường dẫn bình phương bé nhất từng phần (PLS-SEM) gồm hai bước: đánh giá mô hình đo lường (độ tin cậy Cronbach's Alpha, CR, AVE, Outer loadings, chỉ số HTMT, đa cộng tuyến Outer VIF) và đánh giá mô hình cấu trúc (R², f², Inner VIF, Bootstrap kiểm định tác động trực tiếp, trung gian và điều tiết).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Chương 1 hệ thống hóa các lý thuyết và khái niệm nền tảng:

  • Phân tích bản chất của văn hóa và văn hóa tổ chức, tổng hợp các góc độ tiếp cận từ các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.
  • Trình bày 4 loại hình VHTC theo mô hình của Robert Quinn và Kim Cameron (2011): Văn hóa gia đình (chú trọng môi trường thân thiện, làm việc nhóm, lãnh đạo định hướng người hướng dẫn), Văn hóa sáng tạo (đề cao tự do, đổi mới, chấp nhận rủi ro), Văn hóa thứ bậc (đề cao trật tự, chuẩn mực, kiểm soát quy trình chặt chẽ), và Văn hóa thị trường (đề cao tính cạnh tranh, năng suất, định hướng kết quả cuối cùng).
  • Phân tích chi tiết vai trò của VHTC đối với người lao động (tạo động lực, định vị giá trị bản thân), đối với tổ chức (định hình bản sắc, thu hút và giữ chân nhân tài, cải thiện kết quả hoạt động), và đối với khách hàng cùng cộng đồng xã hội.
  • Hệ thống hóa các mô hình văn hóa tổ chức tiêu biểu: mô hình 3 tầng của Schein (2004), mô hình 4 lớp của Hofstede (1980), mô hình DOCS của Denison (1990).
  • Làm rõ cơ sở lý thuyết về đổi mới môi trường, lý thuyết năng lực động (Coulter, 2002), và hệ thống chỉ tiêu đo lường kết quả hoạt động doanh nghiệp trên hai phương diện tài chính (doanh thu, lợi nhuận, ROI, ROA, ROE, Tobin's Q) và phi tài chính.

Chương 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu và mô hình nghiên cứu

Chương 2 tập trung phân tích tổng quan các công trình nghiên cứu tiền nhiệm và xây dựng khung lý thuyết thực nghiệm:

  • Tổng lược các nghiên cứu thực nghiệm trong nước và quốc tế về tác động của VHTC tới các khía cạnh hoạt động của doanh nghiệp, các công trình về đổi mới môi trường và năng lực động.
  • Chỉ ra các điểm hạn chế trong các nghiên cứu đi trước và xác lập tính phù hợp của việc nghiên cứu trong bối cảnh doanh nghiệp dệt may Việt Nam.
  • Thiết lập mô hình nghiên cứu thực nghiệm với biến độc lập là VHTC (bậc 2 cấu thành từ văn hóa gia đình, thứ bậc, thị trường, sáng tạo); hai biến trung gian bậc 2 là Đổi mới môi trường (tổ chức sinh thái, quá trình sinh thái, sản phẩm sinh thái) và Năng lực động (năng lực chiến lược, năng lực R&D, năng lực quản lý); biến điều tiết là Quy mô doanh nghiệp; và biến phụ thuộc là Kết quả hoạt động.
  • Xây dựng hệ thống 8 giả thuyết nghiên cứu thực nghiệm (từ H1 đến H7, trong đó bao gồm H6a và H6b).

Chương 3: Bối cảnh nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày bối cảnh thực tiễn ngành dệt may và thiết kế nghiên cứu:

  • Bối cảnh ngành dệt may Việt Nam: Phân tích thực trạng chuỗi giá trị 5 công đoạn (nguyên liệu thô, sản xuất đầu vào sợi/vải, thiết kế mẫu và sản xuất thành phẩm, xuất khẩu, marketing và phân phối). Cơ cấu phương thức sản xuất ngành bộc lộ sự mất cân đối lớn: gia công thuần túy CMT chiếm 75,3%, phương thức FOB kết hợp CMT chiếm trên 95% kim ngạch xuất khẩu; phương thức tự thiết kế ODM chỉ chiếm 2%-3%, phương thức sở hữu thương hiệu OBM chủ yếu tiêu thụ nội địa. Lợi nhuận khâu may gia công thấp (tỷ suất lợi nhuận chỉ 5%-10%). Khâu dệt, nhuộm, hoàn tất chậm phát triển tạo thành nút thắt cổ chai, dẫn đến việc phải nhập khẩu lớn nguồn vải và phụ liệu. Dòng vốn FDI gia tăng mạnh từ năm 2015 nhằm đón đầu cơ hội từ CPTPP và EVFTA.
  • Quy trình nghiên cứu: Trình bày chi tiết 3 giai đoạn nghiên cứu từ tổng quan tài liệu, nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu/nhóm tập trung phân tích qua NVivo) đến nghiên cứu định lượng (sơ bộ N=147 và chính thức N=556).
  • Thiết kế thang đo: Xây dựng bảng hỏi chuẩn hóa, mã hóa biến số từ các nghiên cứu quốc tế (Cameron & Quinn, 2011; Rosario và cộng sự, 2017; Zhongju Liao, 2018; Coulter, 2002; Rubio-Bañón & Aragón-Sánchez, 2008) và kết quả định tính.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 4 thể hiện toàn bộ các phân tích định lượng thực nghiệm trên phần mềm SPSS 23 và SmartPLS 3.3:

  • Thống kê mô tả mẫu: Phân tích đặc điểm 556 mẫu quan sát hợp lệ theo các tiêu chí: quy mô doanh nghiệp, khu vực hoạt động địa lý (Bắc, Trung, Nam) và tỷ lệ sản phẩm xuất khẩu.
  • Đánh giá mô hình đo lường (Measurement Model):
    • Kiểm định độ tin cậy nhất quán nội tại qua hệ số Cronbach's Alpha và độ tin cậy tổng hợp (Composite Reliability - CR).
    • Kiểm định giá trị hội tụ thông qua hệ số tải ngoài (Outer loadings > 0,7) và phương sai trích trung bình (Average Variance Extracted - AVE > 0,5).
    • Kiểm định giá trị phân biệt bằng tỷ số Heterotrait-Monotrait (HTMT < 0,85/0,90).
    • Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến của mô hình đo lường thông qua hệ số Outer VIF (< 5).
  • Đánh giá mô hình cấu trúc (Structural Model):
    • Kiểm định đa cộng tuyến nội tại qua hệ số Inner VIF.
    • Đánh giá khả năng giải thích của mô hình qua hệ số xác định R² và mức độ tác động f².
    • Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu bằng kỹ thuật Bootstrap: Đánh giá hệ số đường dẫn (path coefficient) và giá trị p-value cho các tác động trực tiếp (VHTC tác động tới kết quả hoạt động, đổi mới môi trường, năng lực động; đổi mới môi trường và năng lực động tác động tới kết quả hoạt động).
    • Kiểm định vai trò trung gian của đổi mới môi trường (H6a) và năng lực động (H6b).
    • Kiểm định vai trò điều tiết của quy mô doanh nghiệp (H7) trong mối quan hệ giữa VHTC và kết quả hoạt động.

Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu và đề xuất khuyến nghị nâng cao văn hóa tổ chức của các doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam

Chương 5 thảo luận ý nghĩa các phát hiện và đề xuất các giải pháp:

  • Thảo luận kết quả nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa các thành tố VHTC và kết quả hoạt động của doanh nghiệp dệt may trong sự đối chiếu với các công trình đi trước.
  • Khuyến nghị đối với doanh nghiệp dệt may: Xây dựng VHTC gắn kết, quan tâm đến phát triển người lao động; tạo lập môi trường khuyến khích sáng tạo và đổi mới quy trình; thúc đẩy đầu tư đổi mới sinh thái (công nghệ xanh, sản phẩm thân thiện môi trường); từng bước chuyển dịch từ phương thức gia công CMT sang FOB, ODM, OBM; đầu tư nâng cao năng lực quản lý và hoạt động R&D.
  • Khuyến nghị đối với nhà quản lý cấp cao và cấp trung: Nâng cao nhận thức về văn hóa tổ chức, hoàn thiện hệ thống đánh giá hiệu quả qua KPIs rõ ràng, minh bạch, thiết lập quy chuẩn ứng xử nội bộ, truyền thông tầm nhìn và chiến lược đến toàn thể nhân viên.
  • Khuyến nghị đối với Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS): Tổ chức các diễn đàn chia sẻ kinh nghiệm xây dựng văn hóa doanh nghiệp, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực quản lý, tăng cường kết nối chuỗi cung ứng nội địa nhằm giảm phụ thuộc nguyên phụ liệu nhập khẩu.
  • Trình bày các hạn chế nghiên cứu và phương hướng nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Luận án vận dụng và kết hợp Lý thuyết Năng lực động (Dynamic Capabilities Theory) và Lý thuyết Khuếch tán đổi mới (Diffusion of Innovations Theory) để xây dựng mô hình cấu trúc bậc hai toàn diện giải thích cơ chế tác động của văn hóa tổ chức tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp dệt may.
  2. Luận án xác định và kiểm định thành công vai trò trung gian đồng thời của hai yếu tố cấu tạo bậc hai là Đổi mới môi trường (gồm tổ chức sinh thái, quá trình sinh thái, sản phẩm sinh thái) và Năng lực động (gồm năng lực chiến lược, năng lực R&D, năng lực quản lý) trong việc truyền dẫn tác động từ VHTC đến kết quả hoạt động.
  3. Luận án kiểm định vai trò điều tiết của Quy mô doanh nghiệp trong mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức và kết quả hoạt động của các doanh nghiệp dệt may tại Việt Nam.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp dữ liệu thực nghiệm về thực trạng nhận thức và mức độ vận dụng các đặc trưng văn hóa tổ chức (văn hóa gia đình, văn hóa thứ bậc, văn hóa thị trường, văn hóa sáng tạo) tại các doanh nghiệp dệt may trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam.
  2. Chứng minh bằng chứng thực nghiệm cho thấy việc củng cố VHTC là công cụ giúp các doanh nghiệp dệt may nâng cao năng lực thích ứng với các tiêu chuẩn môi trường khắt khe của thị trường quốc tế, hỗ trợ quá trình nâng cấp phương thức sản xuất từ gia công giá trị thấp (CMT) lên các phương thức có hàm lượng giá trị gia tăng cao hơn (FOB, ODM).
  3. Đề xuất hệ thống khuyến nghị thực tiễn có tính phân tầng dành cho ban lãnh đạo doanh nghiệp dệt may, đội ngũ quản lý các cấp và Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Phạm vi ngành: Nghiên cứu chỉ tập trung khảo sát các doanh nghiệp thuộc ngành dệt may tại Việt Nam, do đó mức độ khái quát hóa kết quả sang các ngành công nghiệp sản xuất khác cần được xem xét thận trọng.
  • Thiết kế nghiên cứu cắt ngang: Dữ liệu định lượng được thu thập tại một thời điểm (cross-sectional data) trong giai đoạn 2020–2021, thời điểm chịu tác động bất thường của đại dịch COVID-19, nên chưa phản ánh được biến động dài hạn theo thời gian của VHTC.
  • Tính chủ quan trong khảo sát: Dữ liệu thu thập qua phiếu khảo sát tự đánh giá của các nhà quản lý doanh nghiệp có thể chịu ảnh hưởng bởi nhận thức chủ quan của người trả lời.

Hướng nghiên cứu trong tương lai

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các ngành sản xuất xuất khẩu chủ lực khác của Việt Nam (như da giày, điện tử, chế biến gỗ) để đối chiếu, so sánh sự khác biệt về vai trò của VHTC.
  • Áp dụng phương pháp nghiên cứu theo chuỗi thời gian dọc (longitudinal study) để theo dõi sự chuyển biến của văn hóa tổ chức và tác động dài hạn của nó tới kết quả hoạt động tài chính qua các giai đoạn kinh tế khác nhau.
  • Bổ sung thêm các biến số điều tiết hoặc trung gian mới phù hợp với xu thế phát triển, như mức độ chuyển đổi số (digital transformation) và mức độ tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Quản trị kinh doanh: Luận án cung cấp một tài liệu tham khảo hoàn chỉnh về cách thức vận dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, quy trình chuẩn hóa thang đo từ định tính (sử dụng NVivo) đến định lượng (phân tích mô hình cấu trúc bậc hai PLS-SEM trên SmartPLS 3.3). Khung lý thuyết tích hợp giữa Khung giá trị cạnh tranh (CVF), Năng lực động và Đổi mới môi trường là tài liệu có giá trị tham khảo học thuật cao.
  • Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp dệt may: Luận án là tài liệu tham khảo thực tế giúp các nhà quản lý nhận diện mô hình văn hóa hiện tại của đơn vị mình, từ đó điều chỉnh chính sách quản trị nhân sự, xây dựng môi trường làm việc khuyến khích đổi mới sáng tạo, phát triển các sáng kiến xanh nhằm đáp ứng tiêu chuẩn của các thị trường nhập khẩu lớn.
  • Đối với Hiệp hội ngành nghề (VITAS) và các nhà hoạch định chính sách: Các dữ liệu phân tích về thực trạng chuỗi giá trị dệt may, nút thắt khâu dệt - nhuộm và sự phụ thuộc nguyên phụ liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn để đề xuất các chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ và chuyển đổi xanh cho ngành dệt may Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Bốn loại hình văn hóa tổ chức được tác giả sử dụng làm biến cấu tạo bậc hai trong mô hình nghiên cứu là gì?

Dựa trên mô hình Khung giá trị cạnh tranh của Cameron & Quinn (1999, 2011) và hiệu chỉnh qua nghiên cứu của Rosario và cộng sự (2017), luận án đo lường văn hóa tổ chức thông qua 4 thành phần bậc hai:

  • Văn hóa gia đình (Clan culture)
  • Văn hóa sáng tạo (Adhocracy / Adocracy culture)
  • Văn hóa thứ bậc (Hierarchy culture)
  • Văn hóa thị trường (Market culture)

2. Hai biến trung gian nào được đưa vào mô hình để giải thích mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức và kết quả hoạt động?

Luận án đưa vào hai biến trung gian cấu tạo bậc hai:

  • Đổi mới môi trường: Gồm đổi mới tổ chức sinh thái, đổi mới quá trình sinh thái và đổi mới sản phẩm sinh thái (kế thừa từ Zhongju Liao, 2018).
  • Năng lực động: Gồm năng lực chiến lược, năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D) và năng lực quản lý (kế thừa từ Coulter, 2002; Rubio-Bañón & Aragón-Sánchez, 2008).

3. Quy mô mẫu và công cụ phân tích số liệu định lượng chính thức của luận án được thực hiện ra sao?

Nghiên cứu định lượng chính thức thu thập số liệu từ ngày 1/12/2020 đến 1/3/2021 qua 750 phiếu khảo sát, thu về 676 phiếu và giữ lại 556 mẫu khảo sát hợp lệ từ các doanh nghiệp dệt may trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Kỹ thuật phân tích được thực hiện bằng mô hình phương trình cấu trúc bình phương bé nhất từng phần (PLS-SEM) trên phần mềm SmartPLS 3.3 kết hợp với SPSS 23.

4. Bối cảnh phương thức sản xuất của ngành dệt may Việt Nam được luận án chỉ ra như thế nào?

Ngành dệt may Việt Nam chủ yếu tham gia vào khâu may gia công có giá trị gia tăng thấp nhất (tỷ suất lợi nhuận khoảng 5%-10%). Hai phương thức gia công thuần túy CMT (75,3%) và FOB chiếm hơn 95% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu. Phương thức tự thiết kế ODM chỉ chiếm 2%-3% và phương thức OBM chủ yếu phân phối nội địa và các quốc gia lân cận. Khâu dệt, nhuộm và hoàn tất chậm phát triển tạo thành nút thắt cổ chai, khiến ngành phụ thuộc lớn vào vải và nguyên phụ liệu nhập khẩu.

5. Giai đoạn nghiên cứu định tính của luận án được triển khai bằng công cụ và thời gian nào?

Giai đoạn định tính được triển khai từ ngày 1/9/2020 đến ngày 30/10/2020, sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu và phỏng vấn nhóm tập trung đối với lãnh đạo các cấp (cơ sở, cấp trung, cấp cao) tại các doanh nghiệp dệt may và các chuyên gia học thuật. Thời lượng mỗi buổi phỏng vấn kéo dài từ 90 đến 130 phút, dữ liệu âm thanh được tổng hợp, mã hóa bằng tính năng của phần mềm NVivo để hiệu chỉnh thang đo và hoàn thiện bảng hỏi.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Đức Hòa đã hệ thống hóa và phát triển thành công mô hình cấu trúc phân tích tác động của văn hóa tổ chức tới kết quả hoạt động của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam. Thông qua phương pháp nghiên cứu hỗn hợp với mẫu khảo sát 556 doanh nghiệp, tác giả đã làm rõ vai trò trung gian của đổi mới môi trường, năng lực động cùng vai trò điều tiết của quy mô doanh nghiệp trong mối quan hệ này. Các kết quả thực nghiệm và hệ thống khuyến nghị trong luận án cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn giá trị cho công tác quản trị doanh nghiệp dệt may trong tiến trình hội nhập và phát triển bền vững.