chương 1 đã nêu lên cơ sở lý luận về nghiên cứu và phát triển thị trường. Cơ sở lý luận đã tổng quát được phương pháp nghiên cứu thị trường và cách thức phân tích thông tin, đánh giá tình hình doanh nghiệp cũng như cơ hội và thách thức của thị trường nội địa. Kết hợp với kiến thức về Marketing hỗn hợp để đề ra những chiến lược liên quan đến mục tiêu phát triển thị trường nội địa. Đây chính là nền tảng lý thuyết đã được đưa ra và nó sẽ được vận dụng vào thực trạng nghiên cứu và phát triển thị trường tiêu thụ tại TP.HCM của Tập Đoàn Dệt May Việt Nam.
Điều này được thể hiện trong nội dung của chương 2 và chuơng 3. Trên đây là một số cơ sở lý luận đã được đưa ra để vận dụng vào đề tài “Nghiên cứu và phát triển thị trường tiêu thụ tại TP.HCM của Tập Đoàn Dệt may Việt Nam”. 123doc CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ CỦA TẬP ĐOÀN DỆT MAY VIỆT NAM (VINATEX) TẠI TP.1 SƠ LƯỢC VỀ TẬP ĐOÀN DỆT MAY VIỆT NAM : 2. Lịch sử hình thành và phát triển của Tập Đoàn Dệt May Việt Nam : • Liên hiệp dệt và Liên hiệp may Việt Nam : Ngành dệt may Việt Nam trước năm 1995, tồn tại 2 đơn vị tên “Tổng công ty Dệt” và “Liên hiệp sản xuất xuất nhập khẩu may”.
Cơ chế điều hành của Tổng công ty mang tính mệnh lệnh hành chính, thực hiện theo kế hoạch hóa tập trung. Các đơn vị thành viên được giám sát theo dõi chặt chẽ theo định mức và cơ chế bao cấp. • Tổng công ty dệt may Việt Nam : Tình hình ngành Bông Việt Nam không phát triển vì có sự tách biệt giữa dệt và may. Từ đó, Chính phủ quyết định thành lập Tổng công ty Dệt may Việt Nam với mục đích điều phối và kết hợp giữa ngành trồng Bông với ngành dệt may thành một khối và duy trì được sự hoạt động của ngành trồng bông Việt Nam.
Đến ngày 29/04/1995 Tổng công ty Dệt May Việt Nam được thành lập trên cơ sở xác nhập Tổng công ty Dệt và Liên hiệp sản xuất xuất khẩu may. Tổng công ty Dệt May kinh doanh theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, quản lý phân cấp với sự tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh doanh. Hình thức quản lý nhà nước đối với các đơn vị thành viên theo điều lệ và các quy chế quản lý được ban hành. • Tập đoàn dệt may Việt Nam : Đến ngày 02/12/2005 Tập đoàn Dệt May Việt Nam được thành lập, trên cơ sở tái cơ cấu Tổng công ty Dệt May Việt Nam.
Tập đoàn Dệt May Việt Nam hoạt động sản xuất theo cơ chế thị trường, từng bước hòa nhập vào thị trường thế giới. 123doc Vai trò quản lý của Tập đoàn đối với các công ty thành viên là quản lý kinh tế, đầu tư tài chính theo điều lệ và các quy chế thỏa thuận được ban hành. Hiện nay ngành dệt may trong thời gian qua đã phát triển vượt bậc, là ngành có kim ngạch xuất khẩu đạt 5,8 tỷ USD (đứng thứ 2) và có số lao động đứng thứ 1 trong các ngành công nghiệp (trên 2 triệu lao động). Trong đó số lao động trong Tập đoàn là 100 nghìn lao động, chiếm tỷ trọng 5% của toàn ngành dệt may.
Vinatex gồm 64 đơn vị thành viên hoạt động theo mô hình Tổng công ty, Công ty TNHH 1 thành viên, công ty cổ phần chi phối, đơn vị sự nghiệp, đơn vị phụ thuộc và các đơn vị hợp tác liên doanh. Trong đó ngành may có 60.000 máy với năng lực sản xuất 250 triệu sản phẩm, chiếm tỷ trọng 20% trong cả nước.1 : Sơ đồ tổ chức của Vinatex. Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm may mặc của VINATEX : Bảng 2.1: KNXK dệt may Việt Nam giai đoạn 2000 đến 2006. Đơn vị: Triệu USD Chỉ tiêu 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 KNXK cả 14,483 15,029 16,029 20,149 26,504 32,440 39,830 nước Tăng 25.78% trưởng(%) KNXK Dệt 1,892 1,975 2,732 3,609 4,386 4,836 5,800 may Tăng 8.93% trưởng (%) Tỷ trọng KNXK 13.56% dệt may/cả nước Nguồn: [20] Căn cứ vào bảng 2.1, có thể thấy tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may so với tổng kim ngạch xuất khẩu trong cả nước chiếm tỷ trọng rất lớn từ 13% trở lên kể từ năm 2000.
Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu dệt may so với tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước ngày càng gia tăng, điều này càng cho thể hiện thế mạnh của ngành dệt may Việt Nam đang trên đà phát triển góp phần gia tăng kim ngạch xuất khẩu trong cả nước. Bên 123doc cạnh đó tốc độ tăng trưởng bình quân của kim ngạch xuất khẩu dệt may là (19,26%) tương đối bằng so với tốc độ tăng trưởng bình quân của tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước (19,76%). Trên cơ sở đó chúng ta nhận thấy ngành dệt may được xem là một ngành có thế mạnh hiện nay ở nước ta. Trong đó, Tập đoàn Dệt May Việt Nam đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển ngành Dệt May Việt Nam.
Với bảng số liệu tổng kết tình hình phát triển kim ngạch xuất khẩu Việt Nam qua các năm từ 2000 đến năm 2006 chúng ta nhận thấy sự phát triển về kim ngạch xuất khẩu Dệt May của Vinatex được thể hiện trong bảng 2.2: KNXK Dệt May cả nước và của Vinatex giai đoạn 2000 đến 2006. ĐVT: Triệu USD Tăng Chỉ tiêu 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 bình quân KNXK Dệt may cả 1,892 1,975 2,732 3,609 4,386 4,836 5,800 nước KNXK 474 516 539 712 1,036 1,198 1,317 Vinatex Tỷ trọng 25.78 (%) Tốc độ tăng trưởng 4.09 ngành (%) Tốc độ tăng 8.42 trưởng 123doc Vinatex (%) Nguồn: [21] Qua bảng 2.2, chúng ta nhận thấy tỷ trọng giá trị kim ngạch xuất khẩu của Vinatex chiếm bình quân 23% giá trị xuất khẩu dệt may trong cả nước. Kim ngạch xuất khẩu của Vinatex trong giai đoạn 2000 đến 2006 có tốc độ tăng bình quân 19.42% xấp xỉ bằng với tốc độ tăng trưởng bình quân của ngành (21,09%). Trong giai đoạn 2000 đến 2006, thì tốc độ tăng cao nhất của Vinatex là vào năm 2003(32,10%), 2004 (45.
Để đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh trong các năm 2003, 2004 và 2005 là do Tập Đoàn Dệt May Việt Nam đẩy mạnh phát triển thị trường xuất khẩu, ngay cả những thị trường khó tính như Nhật Bản, Hoa Kỳ và Châu Âu (EU). Ngay từ khi Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ chưa được ký kết, các Doanh nghiệp thuộc Vinatex trước đây đã phát huy vai trò đầu tàu của mình đã nắm bắt cơ hội mọi cách xuất hàng vào Hoa Kỳ để tạo chổ đứng và làm quen với khách hàng. Trong thời gian qua Vinatex đã mở thêm các Văn phòng đại diện tại Hoa Kỳ, Nhật Bản để làm cầu nối giới thiệu khách hàng cho doanh nghiệp. Kết quả là kim ngạch xuất khẩu của Vinatex đạt được ở các năm 2003 (712 triệu USD), 2004 (1,036 triệu USD) và năm 2005 (1,198 triệu USD).
Các số liệu trên được thể hiện qua biểu đồ sau: 123doc 6,000 5,000 Giá trị (Triệu 4,000 USD) 3,000 2,000 KNXK Dệt may 1,000 cả nước 0 KNXK Vinatex 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Nguồn:[21] Biểu đồ 2.1: Kim ngạch xuất khẩu Dệt may Trong đó, thị trường xuất khẩu chủ yếu của Vinatex là Mỹ, EU và Nhật Bản. Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Vinatex vào các thị trường chính được thể hiện trong bảng 2.3: KNXK của Vinatex vào một số thị trường chính. ĐVT: Triệu USD Thị trường 2001 2002 2003 2004 2005 2006 EU 215 157 163 193 200 300 MỸ 29 210 392 594 600 700 NHẬT 158 88 84 149 178 170 Thị trường 114 84 73 100 220 147 khác Tổng 516 539 712 1,036 1,198 1,317 Nguồn: [22] 123doc KNXK của Vinatex vào thị trường chính 800 700 600 EU 500 MỸ 400 NHẬT 300 Thị trường khác 200 100 0 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Biểu đồ 2.2 KNXK CỦA VINATEX VÀO THỊ TRƯỜNG CHÍNH Nguồn: [22] Số liệu cho thấy KNXK của Vinatex vào thị trường Mỹ trong giai đoạn 2000 đến 2006 là phát triển mạnh. Tốc độ phát triển tăng nhanh ngay sau khi Việt Nam ký hiệp định song phương với Hoa Kỳ nhưng năm 2005 tốc độ tăng trưởng chậm lại so với năm 2003 và 2004.
Tốc độ tăng trưởng được thể hiện qua đường biểu diễn KNXK của Vinatex vào thị trường Mỹ là một đường dốc lên có biên độ góc so với trục hoành (thể hiện thời gian qua các năm) lớn hơn 45o. Thị trường Mỹ là thị trường có kim ngạch xuất khẩu lớn về sản phẩm may mặc của Việt Nam và của Vinatex. Đặc biệt thể hiện ở tỷ trọng về KNXK vào thị trường Mỹ so với tổng KNXK của Vinatex là kể từ 2001 chỉ có tỷ lệ là 5,62% đến năm 2002 tỷ lệ tăng lên 38,96% và đến năm 2003 đến 2006 tỷ trọng tăng nhanh chiếm trên 50%. Kế đến là thị trường EU, xét về giá trị tuyệt đối về KNXK trong giai đoạn năm 2001 đến năm 2006 thì tăng nhưng xét về tỷ trọng thì tỷ trọng KNXK vào thị trường 123doc EU lại giảm từ 41,67% (2001) xuống còn 29,13%(2002) và giảm dần ở các năm kế tiếp đến năm 2006 thì tỷ trọng chỉ còn 23%.
Thị trường Nhật Bản, tương tự như thị trường EU sau thời gian sụt giảm năm 2002 và 2003 đã khôi phục và phát triển lại trong năm 2004, 2005 và dần ổn định trong năm 2006. Doanh thu tiêu thụ nội địa của VINATEX : Bảng 2.4: Tổng hợp doanh thu nội địa của vinatex. ĐVT : Triệu đồng. Khu vực 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Miền Bắc 85,853 102,837 99,260 104,574 165,546 205,861 117,879 138,286 Miền Nam 52,608 79,865 105,463 157,059 279,592 310,191 383,159 84,486 Tp.
HCM 50,304 58,732 71,376 95,165 157,059 278,057 309,708 377,730 Khác 2,304 21,133 13,110 10,298 - 1,535 483 5,429 Cả Nước 138,461 182,702 183,746 210,037 322,605 485,453 428,070 521,445 Nguồn: [23].5: Tỷ trọng doanh thu tiêu thụ nội địa từng khu vực so với cả nước. Khu vực 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Miền Bắc 85,853 102,837 99,260 104,574 165,546 205,861 117,879 138,286 Tốc độ phát 20% -3% 5% 58% 24% -43% 17% triển Tỷ trọng 62% 56% 54% 50% 51% 42% 28% 27% Miền Nam 52,608 79,865 84,486 105,463 157,059 279,592 310,191 383,159 Tốc độ phát 52% 6% 25% 49% 78% 11% 24% triển Tỷ trọng 38% 44% 46% 50% 49% 58% 72% 73% Tp.