Luận văn thạc sĩ mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp cấu trúc vốn và hiệu quả doanh nghiệp bằng chứng thực nghiệm tại các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Phân tích toàn diện mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp, cấu trúc vốn và hiệu quả tại doanh nghiệp, đề xuất mô hình mới, nâng cao hiệu quả ứng

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

106
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Bài nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp, cấu trúc vốnhiệu quả doanh nghiệp tại các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2008 - 2017. Quản trị doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn và chi phí vốn. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp hồi quy như OLS, FEM, REM và GLS để phân tích dữ liệu từ 225 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết. Kết quả cho thấy có mối quan hệ chặt chẽ giữa quản trị doanh nghiệphiệu quả doanh nghiệp, đồng thời cấu trúc vốn cũng có tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt động.

II. Tác động của quản trị doanh nghiệp đến cấu trúc vốn

Nghiên cứu chỉ ra rằng quản trị doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Cụ thể, quy mô của Hội đồng quản trị (HĐQT) và tính độc lập của HĐQT có mối quan hệ ngược chiều với đòn bẩy tài chính. Điều này có nghĩa là khi quy mô HĐQT lớn hơn và HĐQT độc lập hơn, doanh nghiệp có xu hướng sử dụng ít nợ hơn. Hơn nữa, sự hiện diện của các thành viên nữ trong HĐQT cũng góp phần làm giảm đòn bẩy tài chính. Kết quả này cho thấy rằng việc cải thiện quản trị doanh nghiệp có thể giúp doanh nghiệp tối ưu hóa cấu trúc vốn, từ đó giảm thiểu rủi ro tài chính.

III. Tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả doanh nghiệp

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng cấu trúc vốn có tác động tích cực đến hiệu quả doanh nghiệp. Cụ thể, đòn bẩy tài chính có thể thúc đẩy hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là trong các doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao. Tuy nhiên, việc sử dụng nợ quá mức có thể dẫn đến rủi ro tài chính cao hơn, ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ lưỡng trong việc quyết định mức độ nợ phù hợp để tối ưu hóa hiệu quả hoạt động mà không làm gia tăng rủi ro tài chính.

IV. Vai trò trung gian của đòn bẩy tài chính

Kết quả nghiên cứu cho thấy đòn bẩy tài chính đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệphiệu quả doanh nghiệp. Cụ thể, quản trị doanh nghiệp tốt hơn dẫn đến việc sử dụng nợ hợp lý hơn, từ đó cải thiện hiệu quả doanh nghiệp. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao quản trị doanh nghiệp không chỉ để tối ưu hóa cấu trúc vốn mà còn để nâng cao hiệu quả hoạt động. Các doanh nghiệp cần chú trọng đến việc cải thiện quản trị doanh nghiệp để đạt được hiệu quả tối ưu trong hoạt động kinh doanh.

V. Kết luận và khuyến nghị

Bài nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ giữa quản trị doanh nghiệp, cấu trúc vốnhiệu quả doanh nghiệp tại các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết tại Việt Nam. Để nâng cao hiệu quả doanh nghiệp, các doanh nghiệp cần cải thiện quản trị doanh nghiệp và tối ưu hóa cấu trúc vốn. Các nhà quản lý nên xem xét việc tăng cường tính độc lập của HĐQT và khuyến khích sự tham gia của các thành viên nữ trong HĐQT. Hơn nữa, việc sử dụng nợ cần được cân nhắc kỹ lưỡng để đảm bảo rằng nó không làm gia tăng rủi ro tài chính.

25/01/2025
Luận văn thạc sĩ mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp cấu trúc vốn và hiệu quả doanh nghiệp bằng chứng thực nghiệm tại các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Giới thiệu Chương 2. Khung lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương 3. Phương pháp nghiên cứu Chương 4.

Kết quả Chương 5. Kết luận 123doc 5 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Tác động của quản trị doanh nghiệp đối với đòn bẩy tài chính Để tổng quát về mối quan hệ này, khung tiếp cận nghiên cứu được trình bày trong hình 2.1 dưới đây Quy mô HĐQT Đòn bẩy tài chính HĐQT độc lập Quy mô ủy ban kiểm toán Biến kiểm soát: Thành viên nữ trong HĐQT  Lợi nhuận ngành CEO kiêm nhiệm  Quy mô doanh nghiệp  Tuổi doanh nghiệp Sự tập trung quyền sở hữu  Chi tiêu vốn  Khả năng thanh toán hiện hành Danh tiếng của DN kiểm toán  Tỷ số giá trị thị trường trên giá trị sổ sách  Tỷ số dòng tiền trên tổng tài sản  Tỷ số tài sản cố định Hình 2. 1 Khung tiếp cận nghiên cứu mối quan hệ giữa QTDN và đòn bẩy tài chính 2.1 Quy mô HĐQT và đòn bẩy tài chính HĐQT là một trong những yếu tố quan trọng nhất của cơ chế QTDN trong việc giám sát hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.

HĐQT thay mặt các cổ đông thực hiện giám sát hoạt động của ban điều hành, ngăn ngừa mâu thuẫn và xung đột lợi ích giữa các cổ đông và ban lãnh đạo, nhằm đảm bảo quyền lợi và vốn đầu tư của cổ đông. HĐQT không can thiệp vào hoạt động kinh doanh hàng ngày mà chỉ tư vấn và giám sát hoạt động của 123doc 6 ban điều hành dựa trên các chiến lược kinh doanh đã được HĐQT đề ra, và đại hội đồng cổ đông thông qua. Nhiều nghiên cứu cho thấy tại sao HĐQT đóng một vai trò quan trọng, nhưng không có nghiên cứu cho thấy quy mô phù hợp của HĐQT. Quy mô HĐQT tối ưu phụ thuộc vào đặc điểm của doanh nghiệp, chi phí quản lý và độ phức tạp của tổ chức (Uchida, 2011).

Tại Việt Nam, theo luật doanh nghiệp quy định số lượng thành viên HĐQT có thể từ 3 đến 11 người. Các nghiên cứu trước đây cung cấp kết quả khác nhau về mối quan hệ giữa quy mô HĐQT và đòn bẩy tài chính. Theo Berger và cộng sự (1997) quy mô HĐQT có tác động ngược chiều đến đòn bẩy tài chính. Jensen (1986) cho rằng các tổ chức có quy mô HĐQT lớn hơn có đòn bẩy tài chính cao hơn so với các tổ chức có quy mô HĐQT nhỏ hơn và có nhiều khả năng sử dụng nợ hơn trong cấu trúc vốn so với các tổ chức có quy mô HĐQT nhỏ hơn.

Mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô HĐQT và đòn bẩy tài chính ủng hộ quan điểm rằng doanh nghiệp với quy mô HĐQT lớn hơn có thể tham gia vào các kênh của giám đốc, giúp tiếp cận nguồn tài trợ bên ngoài tốt hơn. Do đó tác giả đề xuất giả thuyết: Giả thuyết 1. Quy mô HĐQT có quan hệ cùng chiều với đòn bẩy tài chính.2 HĐQT độc lập và đòn bẩy tài chính Thành viên HĐQT độc lập có đóng góp lớn vào những quyết định quan trọng của doanh nghiệp, đặc biệt là trong đánh giá thành tích điều hành doanh nghiệp, đặt ra mức thù lao đối với cán bộ điều hành và thành viên HĐQT, rà soát BCTC và giải quyết mâu thuẫn trong doanh nghiệp. Các thành viên HĐQT độc lập đem lại cho cổ đông niềm tin rằng những quyết định mà HĐQT đưa ra là không thiên vị.

Thành viên HĐQT độc lập đóng góp vào sự thành công của doanh nghiệp bằng việc cung cấp những ý kiến và biểu quyết khi quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐQT. Các nhà đầu tư thường yêu cầu thành viên HĐQT độc lập tham gia vào HĐQT vì hiện diện của họ nhằm tăng tinh thần trách nhiệm và minh bạch trong HĐQT. 123doc 7 Sự tham gia của thành viên HĐQT độc lập cũng là bước cần thiết để thu hút tài trợ vốn bên ngoài hoặc khi doanh nghiệp có dự định niêm yết cổ phiếu ở thị trường trong/ ngoài nước. Thể hiện cam kết của doanh nghiệp với các đối tác bên ngoài về việc doanh nghiệp sẵn sàng giải quyết các mâu thuẫn tiềm tàng và tuân thủ các quy tắc đã được chấp nhận rộng rãi.

Theo định nghĩa, thành viên HĐQT độc lập không phải là cổ đông lớn hoặc nhóm cổ đông và điều hành doanh nghiệp. Họ có yêu cầu phù hợp, theo yêu cầu của HĐQT, vì tính chất riêng biệt trong hoạt động của doanh nghiệp. Các thành viên HĐQT độc lập có kiến thức hoặc nhiều thông tin cho phép doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính cao hơn, sự hiện diện của các thành viên HĐQT độc lập dự kiến sẽ làm tăng đòn bẩy hơn (Berger và cộng sự, 1997). Theo các tài liệu trước đây, nghiên cứu kỳ vọng mối quan hệ cùng chiều giữa HĐQT độc lập và đòn bẩy tài chính, do đó đề xuất giả thuyết: Giả thuyết 1.

HĐQT độc lập có quan hệ cùng chiều với đòn bẩy tài chính.3 Quy mô của ban kiểm soát và đòn bẩy tài chính Ban kiểm soát là một trong những cơ chế quan trọng của QTDN tốt. Đây là một tiểu ban của HĐQT hoạt động độc lập trong việc chuẩn bị báo cáo tài chính và công bố chính xác theo tiêu chuẩn báo cáo với hệ thống kiểm soát nội bộ và đủ tiêu chuẩn kiểm toán. Ban kiểm soát chịu trách nhiệm tư vấn trong việc lựa chọn kiểm toán viên bên ngoài cho HĐQT, kiểm soát quản lý, sự chính xác, độ tin cậy và chất lượng của báo cáo tài chính (Anderson và cộng sự, 2004; Harris và Raviv, 2008). Các nghiên cứu trước đây như Chen và cộng sự (2016) tìm thấy báo cáo tài chính được kiểm toán cung cấp thông tin quan trọng về rủi ro tín dụng doanh nghiệp cho các nhà tài trợ vốn.

Thông tin có thể dẫn đến chấp thuận tín dụng nghiêm ngặt, do đó doanh nghiệp có nhiều cơ hội nhận được khoản vay. Bên cạnh đó, Anderson và cộng sự (2004) tìm được kết quả sự tồn tại của ban kiểm soát trong doanh nghiệp giúp chi phí vay nợ trở nên thấp hơn. Bài nghiên cứu lập luận hiệu quả của ban kiểm soát sẽ cho phép các tổ chức tiếp cận nguồn tài trợ bên ngoài tốt hơn khi cần thiết. Do đó, kỳ vọng quy mô của ban kiểm 123doc 8 soát sẽ có mối quan hệ với với đòn bẩy tài chính.

Tuy nhiên, mối quan hệ có thể là cùng chiều hoặc ngược chiều, tùy thuộc vào mức độ đòn bẩy ban đầu. Một mặt, ban kiểm soát cho phép doanh nghiệp tăng đòn bẩy do thông tin tốt hơn và đáng tin cậy được thị trường cảm nhận (các chủ nợ và nhà đầu tư). Mặt khác, có thể hạ thấp đòn bẩy tài chính nếu đòn bẩy hiện tại được xem là quá cao. Tác động của ban kiểm soát đối với đòn bẩy tài chính là có điều kiện đối với các yếu tố khác, như đòn bẩy trong quá khứ.

Do đó, bài nghiên cứu đề xuất giả thuyết: Giả thuyết 1.3 Quy mô ban kiểm soát có quan hệ cùng chiều với đòn bẩy tài chính.4 Thành viên nữ trong HĐQT và đòn bẩy tài chính Ngày càng có nhiều niềm tin rằng các thành viên nữ trong HĐQT có thể cải thiện hiệu quả của HĐQT. Về mặt này, Na Uy là quốc gia đầu tiên thiết lập rõ ràng số thành viên nữ trong HĐQT bằng cách yêu cầu các doanh nghiệp phải có ít nhất 40% thành viên nữ trong HĐQT. Các thành viên nữ trong HĐQT có khả năng hỗ trợ quản lý doanh nghiệp bằng cách sử dụng các kỹ năng và kiến thức về pháp lý, quản lý nguồn nhân lực, giao tiếp và quan hệ công chúng hơn so với các đồng nghiệp nam (Zelechowski và Bilimoria, 2004). Theo Strøm và cộng sự (2014) việc có một nữ CEO hoặc thành viên nữ trong HĐQT sẽ mang lại hiệu quả tài chính tốt hơn, dựa trên mẫu doanh nghiệp tại 73 quốc gia trong giai đoạn 1998 - 2008.

Câu hỏi đặt ra là liệu các thành viên nữ trong HĐQT có cố gắng hạ thấp đòn bẩy để giảm rủi ro tài chính hay không, từ đó chỉ ra tác động ngược chiều của thành viên nữ trong HĐQT đến đòn bẩy. Tuy nhiên, do các nghiên cứu trước đây (Chang và cộng sự, 2014; Huang và cộng sự, 2015) cho thấy nhiều doanh nghiệp ở các nước tiên tiến có đòn bẩy thấp, sự hiện diện của các thành viên nữ trong HĐQT của các doanh nghiệp có đòn bẩy thấp có thể tăng đòn bẩy cao hơn. Vì các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển thường bị hạn chế về mặt tài chính hơn so với các nước phát triển, kỳ vọng số thành viên nữ trong HĐQT và đòn bẩy sẽ có mối quan hệ cùng chiều trước và ngược chiều sau. Do đó, bài nghiên cứu đề xuất giả thuyết: 123doc 9 Giả thuyết 1.

Thành viên nữ trong HĐQT có quan hệ cùng chiều với đòn bẩy tài chính.5 CEO kiêm nhiệm và đòn bẩy tài chính CEO kiêm nhiệm đề cập đến trường hợp chủ tịch HĐQT đảm nhiệm chức vụ Tổng giám đốc. Sự tồn tại của CEO kiêm nhiệm có thể gây ra xung đột lợi ích vì cho phép CEO kiểm soát thông tin được tiết lộ cho các thành viên HĐQT khác. CEO có thể cản trở việc phát hiện bất kỳ vấn đề nào trong các hoạt động của doanh nghiệp, có khả năng gây ra sự bất đồng từ bên ngoài, làm tăng xung đột lợi ích tiềm năng (Cornett và cộng sự, 2007). Có nhiều tranh luận rằng cá nhân giữ các vị trí CEO và chủ tịch HĐQT phải khác nhau và chủ tịch HĐQT phải là thành viên HĐQT không điều hành.

Việc không có CEO kiêm nhiệm cho phép phân chia rõ ràng giữa hoạch định chính sách và quản lý. Nếu CEO vừa đảm nhiệm chủ tịch HĐQT, sẽ vừa ra quyết định vừa giám sát, từ đó tăng chi phí đại diện do khả năng giám sát CEO của HĐQT giảm, vì vậy hiệu quả kinh doanh sẽ giảm (Dey và cộng sự, 2011). CEO kiêm nhiệm làm tăng đáng kể quyền lực của CEO so với HĐQT, do đó giảm hiệu quả các cơ chế kiểm soát của cấu trúc QTDN (Simpson và Gleason, 1999) và dẫn đến việc sử dụng đòn bẩy dưới mức hoặc quá mức, tùy thuộc vào sở thích rủi ro của CEO. Giả sử có hai nhóm doanh nghiệp: (1) doanh nghiệp với CEO kiêm nhiệm và (2) doanh nghiệp không có CEO kiêm nhiệm.

Các CEO của cả hai nhóm đều có rủi ro tương đối cao, tỷ lệ đòn bẩy tài chính của đối thủ có CEO kiêm nhiệm có xu hướng cao hơn so với đối thủ không có CEO kiêm nhiệm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp, cấu trúc vốn và hiệu quả tại doanh nghiệp phi tài chính Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà quản trị doanh nghiệp và cấu trúc vốn ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp phi tài chính tại Việt Nam. Tác giả đã phân tích mối liên hệ giữa các yếu tố này, từ đó đưa ra những khuyến nghị hữu ích cho các nhà quản lý và nhà đầu tư trong việc tối ưu hóa chiến lược tài chính và quản trị.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng nghiên cứu mối quan hệ hai chiều giữa cơ cấu vốn và hiệu quả kinh doanh của các công ty ngành hàng tiêu dùng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nơi phân tích sâu hơn về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả kinh doanh.

Ngoài ra, bài viết Luận án nghiên cứu tác động của quản trị công ty đến điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của quản trị trong việc điều chỉnh lợi nhuận và ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh.

Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận án tác động của kiểm soát nội bộ tới hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, để thấy được tầm quan trọng của kiểm soát nội bộ trong việc nâng cao hiệu quả doanh nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.