MỞ ĐẦU 1.Giới thiệu chung Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 , kinh tế Việt Nam cũng gặp nhìu khó khăn và thách thức. Tuy nhiên dù phải đối mặt với những bất lợi của kinh tế thế giới, năm 2015 kinh tế Việt Nam vẫn có những điểm sáng và bắt đầu có dấu hiệu phục hồi (GDP năm 2015 tăng 6.68%), năm 2016 mức tăng trưởng tuy thấp hơn năm 2015 (GDP năm 2016 tăng 6.21%) nhưng vẫn là một mức tăng trưởng khá thành công. Trong đó, khu vực sản xuất công nghiệp và xây dựng năm 2015 tăng 9.57% , khu vực này là thành tố quan trọng đóng góp cho sự cải thiện về tốc độ tăng trưởng. Về cơ bản, Việt Nam đã hoàn tất đàm phán các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (TPP, AEC và EVFTA).
Điều này tạo thêm nhiều cơ hội, động lực cho sự phát triển và tạo thêm lực đẩy cho quá trình tái cơ cấu nền kinh tế. Đồng thời hội nhập cũng mang lại những thách thức không nhỏ cho nền kinh tế Việt Nam. Theo tổng cục thống kê, năm 2013 có 76955 doanh nghiệp thành lập mới và có 60737 doanh nghiệp phải giải thể hoặc ngừng hoạt động ; năm 2014 có 74842 doanh nghiệp thành lập mới và có 67823 doanh nghiệp buộc phải giải thể hoặc tạm dừng hoạt động; năm 2015 có 94754 doanh nghiệp thành lập mới và có 80858 doanh nghiệp phải giải thể hoặc tạm dừng hoạt động; năm 2016 có 110100 doanh nghiệp thành lập mới và có 73145 doanh nghiệp phải giải thể hoặc tạm dừng hoạt động .Lý do hình thành đề tài Thực trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay cho ta thấy có nhiều công ty làm ăn có hiệu quả, ngày càng phát triển và vững mạnh thì cũng có nhiều công ty làm ăn thất thoát vốn dẫn đến thua lỗ phải giải thể hoặc tạm dừng hoạt động. Để tồn tại và phát triển thì các công ty cần phải phát huy tối đa sức mạnh nội tại doanh nghiệp của mình.
Cấu trúc vốn tối ưu giúp doanh nghiệp tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn, tối thiểu hóa rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp. Việc nghiên cứu cấu trúc vốn giúp nhà quản lý tài chính doanh nghiệp tìm ra lời giải cho những câu hỏi sau: Xác định cấu trúc vốn như thế nào là hợp lý và có lợi, nên vay nợ hay không, Trang 2 nếu vay nợ thì doanh nghiệp gánh chịu rủi ro ở mức độ nào. Từ đó giúp các nhà quản lý tài chính doanh nghiệp đề ra các quyết định tài trợ đúng đắn nhằm tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, gia tăng lợi nhuận cho cổ đông nhưng vẫn hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất. Vì vậy, nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn là rất cần thiết để giúp các doanh nghiệp xây dựng được cấu trúc vốn tối ưu, phát huy tối đa sức mạnh nội tại nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho doanh nghiệp của mình.
Do đó tôi chọn đề tài: “Các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”.Các mục tiêu nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu có 3 mục tiêu Nhận dạng các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đã nhận dạng đến cấu trúc vốn của các công ty xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Đề xuất các giải pháp hoàn thiện cấu trúc vốn cho các công ty xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.Phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu : Các công ty xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong khoảng thời gian 10 năm từ năm 2007 đến năm 2016. Thời gian nghiên cứu : Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01/2017 – tháng 06/2017 .Phương pháp nghiên cứu Phương pháp định tính: Qua việc thu thập thông tin, dùng kỹ thuật thống kê mô tả để phân tích, đánh giá thực trạng cấu trúc vốn của các công ty xây dựng.
Phương pháp định lượng: Từ bộ dữ liệu của các công ty xây dựng thu thập từ các báo cáo tài chính, sử dụng phần mềm SPSS và phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường (Ordinary least square – OLS) để xác định các hệ số hồi qui, trên cơ sở đó xây dựng phương trình các nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của các công ty xây dựng. Trang 3 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2. Các khái niệm được sử dụng 2. Khái niệm về cấu trúc vốn - Cấu trúc vốn là thuật ngữ tài chính nhằm mô tả nguồn gốc và phương pháp hình thành nên nguồn vốn để doanh nghiệp có thể sử dụng mua sắm tài sản, phương tiện vật chất và hoạt động kinh doanh.
- Cấu trúc vốn đề cập đến quan hệ tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp : + Nợ: Là số tiền mà doanh nghiệp đi vay của các tổ chức, cá nhân; do vậy doanh nghiệp có trách nhiệm phải trả. Nợ bao gồm các khoản nợ tiền vay, các khoản nợ phải trả cho người bán, cho Nhà nước, cho công nhân viên và các khoản phải trả khác. Nợ phải trả của doanh nghiệp bao gồm: nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. + Vốn chủ sở hữu : Là số vốn của các chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp.
Vốn chủ sở hữu do chủ doanh nghiệp và các nhà đầu tư tự góp vốn hoặc hình thành từ kết quả kinh doanh. Vốn chủ sở hữu bao gồm: vốn góp do các chủ sở hữu, lợi nhuận chưa phân phối (lãi lưu giữ), vốn chủ sở hữu khác. - Lợi ích và bất lợi của doanh nghiệp khi sử dụng nợ + Một trong những ưu điểm lớn nhất của việc dùng nợ thay cho vốn chủ sở hữu đó là lãi suất mà doanh nghiệp phải trả trên nợ được miễn thuế. Hay nói cách khác doanh nghiệp được hưởng lợi từ “lá chắn thuế”.
Về nguyên tắc, nếu chúng ta thay vốn chủ sở hữu bằng nợ thì sẽ giảm được thuế doanh nghiệp phải trả, và vì thế tăng giá trị của doanh nghiệp lên. Ưu điểm thứ hai của nợ, đó là thông thường nợ rẻ hơn vốn chủ sỡ hữu (lãi suất vay ngân hàng, hay lãi suất trái phiếu thấp hơn nhiều so với lãi suất kỳ vọng của nhà đầu tư). Như vậy, tăng nợ tức là giảm chi phí chi ra trên một đồng vốn và vì thế tăng lợi nhuận, cũng như giá trị của công ty. Vì tính chất này mà tỷ số nợ trên vốn chủ sỡ hữu còn được gọi là tỷ số đòn bẩy.
Trang 4 + Tuy vậy doanh nghiệp không thể tăng nợ lên mức quá cao so với chủ sỡ hữu. Khi đó công ty sẽ rơi vào tình trạng tài chính không lành mạnh và dẫn đến những rủi ro cho doanh nghiệp. Tỷ lệ nợ cao sẽ dẫn đến nguy cơ phá sản. Khi tỷ lệ nợ tăng, doanh nghiệp phải đối mặt với nguy cơ phá sản hay nói cách khác “chi phí khánh tận” bắt đầu xuất hiện và tăng nhanh hơn so với lợi ích từ “lá chắn thuế” mà doanh nghiệp được hưởng.
Ngoài ra công ty có mức nợ cao còn tác động đến tâm lý của nhà đầu tư và tạo ra sự mâu thuẫn giữa các chủ nợ và nhà đầu tư, khi đó các nhà đầu tư sẽ tìm cách đầu tư dưới mức (tập trung đầu tư vào những dự án rủi ro cao, tạo ra giá trị thấp trong tương lai, nhưng có thể đem lại tiền mặt để có thể chia dưới dạng cổ tức ngay lúc này) trong khi đó những chủ nợ lại muốn công ty đầu tư vào những dự án ít rủi ro và tạo được giá trị cao trong tương lai và mâu thuẫn vì thế phát sinh. - Lợi ích và bất lợi của doanh nghiệp khi sử dụng vốn chủ sở hữu Một trong những điểm không thuận lợi của vốn chủ sở hữu đó là chi phí của nó cao hơn chi phí của nợ. Vì không nhà đầu tư (chủ sở hữu của doanh nghiệp) nào bỏ tiền đầu tư vào công ty gánh chịu những rủi ro về hoạt động và kết quả kinh doanh của công ty mà lại chịu nhận tiền lãi bằng lãi suất cho vay nợ. Việc này cùng với tính chất không được miễn trừ thuế làm cho chi phí vốn càng cao hơn.
Ngoài ra có một điểm không thuận lợi khác, là khi vốn chủ sở hữu càng cao, số lượng người chủ sỡ hữu càng nhiều, thì áp lực về kỳ vọng của nhà đầu tư cũng như sự quản lý, giám sát của họ lên các nhà điều hành công ty càng lớn. Tuy vậy vốn chủ sở hữu sẽ vẫn phải tăng khi công ty cần tiền. Tăng để cân bằng với nợ và giữ cho công ty ở trong tình trạnh tài chính lành mạnh. - Với các ưu và khuyết điểm của cả nợ và vốn chủ sở hữu như đã phân tích ở trên, các công ty phải tự quyết định về cấu trúc vốn trên cơ sở cân bằng lợi ích thu được từ vốn vay và những rủi ro tài chính.
Cấu trúc vốn tối ưu - Cấu trúc vốn tối ưu được hiểu như một tỷ lệ lý tưởng giữa nợ và vốn chủ sở hữu mà tại đó doanh nghiệp có thể tối đa hóa được giá trị thu nhập trên mỗi cổ phần với mức chi phí sử dụng vốn là thấp nhất. Đây là vấn đề rất khó xác định, sự kết hợp giữa nợ và vốn chủ sở hữu thay đổi tùy theo các yếu tố tác động. Ít nhất thì chúng cũng phụ thuộc vào hai yếu tố dưới đây: + Thứ nhất, cấu trúc vốn tối ưu khác nhau với từng ngành. Chính đặc điểm ngành mà doanh nghiệp hoạt động sẽ góp phần quyết định cấu trúc vốn cho doanh nghiệp.
Bởi vì có một số ngành đòi hỏi sử dụng tài sản cố định hữu hình nhiều hơn các ngành khác thí dụ như : ngành viễn thông, điện tử…. Nói chung thì, những ngành nào có nhu cầu đầu tư vào các tài sản cố định (như máy móc thiết bị, nhà xưởng, đất đai) nhiều hơn thì khả năng sử dụng nợ sẽ nhiều hơn. Bởi vì kênh tài trợ lớn cho doanh nghiệp là từ các ngân hàng thì họ lại thích cho vay dựa trên tài sản có đảm bảo là tài sản cố định hữu hình hơn là các tài sản vô hình. + Thứ hai, cấu trúc vốn thay đổi tùy theo chu kỳ tăng trưởng của doanh nghiệp.