Chương 1: Nội dung chương sẽ giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, bao gồm những mục như: lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài, phương pháp nghiên cứu, phạm vi đề tài. Trang 8 Chương 2: Nội dung chương sẽ tổng hợp những lý thuyết liên quan đến sự ảnh hưởng của chính sách cổ tức tác động đến giá của cổ phiếu, vai trò của minh bạch thông tin trong thị trường chứng khoán, cũng như các yếu tố có vai trò giải thích giá trị và rủi ro của cổ đông. Nội dung lý thuyết cũng thực hiện so sánh những mô hình được kiểm chứng trong các thị trường phát triển và mới nổi. Trong phần này, người viết sẽ dựa vào những mô hình đã nghiên cứu và đề xuất mô hình áp dụng cho phù hợp với thực tế thị trường chứng khoán Việt Nam.
Chương 3: Nội dung chương sẽ chi tiết về thiết kế nghiên cứu cho đề tài như định nghĩa và phương pháp tính các biến, lựa chọn phương pháp nghiên cứu, đối tượng và các công cụ dùng trong nghiên cứu. Ngoài ra, tác giả sẽ giới thiệu chi tiết quá trình thực hiện nghiên cứu, cách chấm điểm sự minh bạch thông tin và cách thức xử lý dữ liệu trong chương này. Chương 4: Nội dung chương sẽ trình bày các bước thực hiện phân tích dữ liệu. Sau đó, kết quả sẽ được phân tích và đưa ra nhận xét có tồn tại sự ảnh hưởng của chính sách giá cổ tức, sự minh bạch thông tin.
Đưa ra nhận xét chấp nhận hay không các giả thuyết được đưa ra kiểm định. Chương 5: Nội dung chương sẽ đưa ra kết luận những tác động của chính sách cổ tức cùng những yếu tố khác ảnh hưởng về giá trị và rủi ro của cổ đông trong thị trường minh bạch thông tin. Mức độ yêu cầu về tính minh bạch thông tin đối với cổ đông ở. Kết quả của đề tài cung cấp cho nhà quản lý những cách nhìn khác từ phía cổ đông.
Trang 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khái niệm cổ tức, chính sách cổ tức và đánh giá minh bạch thông tin 2.1 Khái niệm về cổ tức Pandy (1979) định nghĩa cổ tức như là một phần phân chia từ lợi nhuận ròng của một công ty được ban giám đốc đề xuất để phân phối cho các cổ đông tương ứng với tỷ lệ cổ phiếu mà họ nắm giữ trong công ty. Cổ tức thường được công bố bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị danh nghĩa của cổ phần phổ thông mà công ty phát hành hoặc có thể công bố bằng số tiền cố định trên mỗi cổ phiếu. Cổ tức thường được chi trả dựa trên lợi nhuận của năm hiện tại nhưng đôi khi cũng được chi trả từ nguồn quỹ dự trữ và hình thức chi trả cổ tức thường bằng tiền mặt. Woolridge (1982) định nghĩa cổ tức là các khoản thanh toán cho những cổ đông được thực hiện bởi các doanh nghiệp.
Khoản tiền đó được xem như là sự phân phối lợi nhuận kinh doanh cho chủ sở hữu của công ty và cũng có thể xem như là một phần thưởng cho việc đầu tư vào doanh nghiệp. Tại Điều 93 Luật doanh nghiệp 2005 cũng có các quy định về việc chi trả cổ tức của tất cả các công ty cổ phần: “Cổ tức trả cho cổ phần phổ thông được xác định căn cứ vào số lợi nhuận ròng đã thực hiện và khoản chi trả cổ tức được trích từ nguồn lợi nhuận giữ lại của công ty. Công ty cổ phần chỉ được trả cổ tức cho cổ đông khi công ty đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật; trích lập các quỹ công ty và bù đắp đủ lỗ trước đó theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty; ngay sau khi trả hết số cổ tức đã định, công ty phải thanh toán đủ nợ và các nghĩa vụ tài sản đến hạn”.2 Khái niệm về chính sách cổ tức Từ rất lâu trong vấn đề chính sách tài chính của công ty, chính sách cổ tức thường bao gồm hai vấn đề. Vấn đề đầu tiên là quyết định các mốc thời gian chi trả cổ tức cố định.
Các mốc thời gian này sẽ tùy vào từng công ty chẳng hạn các công ty có thể quyết định trả theo năm, nửa năm hoặc hàng quí. Vấn đề thứ hai chính sách cổ Trang 10 tức đề cập đến là mức giá trị mà công ty quyết định chi trả cho cổ đông. Ngày nay, chính sách cổ tức đã vượt ra ngoài hai vấn đề là mốc thời gian chi trả cổ tức và mức giá trị chi trả cho cổ đông. Hiện nay, chính sách cổ tức còn có lựa chọn phân phối tiền mặt thông qua mua cổ phiếu thưởng.
Các vấn đề này được xem xét làm thế nào để tối đa hóa lợi ích cho cổ đông nếu trong môi trường có thuế cao, ngoài ra tìm cách để duy trì và nâng cao giá trị cổ đông và cổ phiếu trên thị trường. Brealey & Meyers (2003, tr 433) định nghĩa chính sách cổ tức là sự đánh đổi giữa một bên là tỷ lệ lợi nhuận giữ lại và bên còn lại gồm tỷ lệ chi trả cổ tức cùng với việc phát hành cổ phiếu mới. Ngưỡng thu hồi phản ánh mức rủi ro của khoảng đầu tư và sự phối hợp giữa nợ và tài sản để cấp tiền cho nó Chính sách đầu tư: Đầu tư vào tài sản có suất sinh lợi Mức lợi nhuận phản ánh cao hơn mức thấp nhất được độ lớn và thời gian của các chấp nhận của ngưỡng thu dòng tiền và tất cả các hiệu hồi ứng phụ khác. Mức phối hợp tối ưu giữa Tối nợ và tài sản để tối đa hóa ưu lợi nhuận cho công ty.
Chính sách nguồn tài hóa chính: Chọn loại nợ phù hợp với công ty và mức giá Chọn đúng thời hạn loại phối hợp nợ và vốn phù hợp trị nợ phù hợp với kỳ tài sản cho hoạt động của của công ty. công ty Mức tiền mặt cần được giữ lại phụ thuộc vào những cơ hội đầu tư hiện tại và tiềm Chính sách cổ tức: Nếu năng. công ty không thể đầu tư để tạo ra mức lãi suất thấp nhất Mức tiền mặt trả cổ tức được chấp nhận. Công ty cho những chủ sở hữu phụ nên trả tiền cổ tức cho cổ Nguồn: Damodaran, thuộc vào họ thích cổ tức đông.
Applied Corporate tiền mặt hay CP thưởng. 1: Ba chính sách tài chính của công ty Trang 11 Theo Damodaran (2011) có hai phương pháp đo lường chính sách cổ tức: • Lợi suất cổ phiếu (Dividend Yield). Lợi suất của cổ phiếu được dùng vì nó cho thấy một trong hai thành phần quan trọng của tổng lợi nhuận khi đầu tư cổ phiếu. • Tỷ lệ chi trả cổ tức (Dividend payout ratio).
Tỷ số này được dùng bởi vì nó thể hiện mức chi trả cổ tức so với lợi nhuận của công ty và cũng là thông số quan trong cho việc ước tính giá cổ phiếu. Phương pháp tính của hai chỉ số trên sẽ được đề cặp cụ thể ở Chương 3.3 Nguyên tắc xây dựng tiêu chuẩn và phương pháp đánh giá minh bạch thông tin 2.1 Nguyên tắc xây dựng thẻ điểm Quản trị công ty Các nguyên tắc Quản trị Công ty của OECD là thước đo được công nhận toàn cầu về quản trị công ty và được áp dụng ở các nước thành viên lẫn không phải thành viên của OECD. Đằng sau những nguyên tắc này là phương pháp đánh giá việc thực hiện các nguyên tắc Quản trị Công ty của OECD. Tuy phương pháp này thường được áp dụng ở cấp độ quốc gia nhưng những nội dung và tiêu chí cơ bản được xem xét trong phương pháp cũng có thể được áp dụng ở cấp độ doanh nghiệp và đã được sử dụng trong xây dựng phiếu câu hỏi chấm điểm.
Nguyên tắc, phương pháp luận của OECD và môi trường quản trị công ty ở Việt Nam là cơ sở xây dựng Thẻ điểm Quản trị Công ty của Việt Nam. Tại lĩnh vực nào mà các quy định của Việt Nam còn thấp hơn thông lệ quản trị công ty tốt nhất của thế giới thì thông lệ quốc tế tốt nhất đó được sử dụng để đánh giá cho điểm tối đa trong bảng thẻ điểm (nghĩa là được đánh giá “tuân thủ hoàn toàn”). Các thông lệ được thừa nhận rộng rãi trên thế giới bao gồm Nguyên tắc OECD, các tiêu chuẩn và cơ sở so sánh của Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASB), Hội đồng Chuẩn mực Kiểm tra và Kiểm toán Quốc tế (IAASB) của IFAC và các tiêu chuẩn và hướng dẫn khác của những tổ chức quốc tế như IOSCO, Ủy ban Basel và ICGN. Trang 12 Trong những trường hợp như vậy, tuân thủ luật lệ Việt Nam chỉ được cho điểm trung bình (nghĩa là chỉ được đánh giá “tuân thủ một phần”).
Các nguyên tắc và quan niệm về quản trị công ty cần không những được công nhận ở mức khái niệm – vì vậy nếu chỉ “tuân thủ” hay “làm cho có” là chưa đủ. Đánh giá có nghĩa là xác định trên quan điểm của “người được thông tin đầy đủ ở mức hợp lý” xem các khái niệm về quản trị công ty đã được áp dụng trên thực tế trong hoạt động của công ty hay chưa. Thực tế này sẽ được “quan sát” từ các thông tin công khai sẵn có về công ty mà một nhà đầu tư có thể tiếp cận được. Tương ứng với quan điểm “nhà đầu tư bên ngoài” này.
Những nội dung chính được sử dụng làm cơ sở đánh giá bằng thẻ điểm về quản trị công ty là những nội dung đã được công nhận là có vai trò quan trọng nhất đối với quản trị công ty trong các Nguyên tắc của OECD: • Quyền cổ đông • Đối xử công bằng với cổ đông • Vai trò của các bên có quyền lợi liên quan trong quản trị công ty • Công bố thông tin và tính minh bạch • Trách nhiệm của Hội đồng Quản trị.2 Phương pháp chấm điểm Minh bạch và công bố thông tin Việc đánh giá mỗi công ty dựa trên các thông tin tin cậy và được công bố ra công chúng của công ty, các dữ liệu và tài liệu công ty, các thông tin được cung cấp rộng rãi cho nhà đầu tư hiện tại hoặc tiềm năng. Đó là những thông tin mà một nhà đầu tư có thể xem xét để đầu tư, thoái vốn hay giữ nguyên khoản đầu tư.