chương 1, tác giả đã đề cập đến tính cấp thiết về khía cạnh học thuật và thực tiễn của hướng nghiên cứu - KSNB của các doanh nghiệp CBTP niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Đồng thời, tác giả cũng trình bày được mục tiêu tổng quát của luận án là nghiên cứu tác động của KSNB đến HQHĐ của các doanh nghiệp CBTP niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, từ đó xem xét đưa ra những khuyến nghị thích hợp về KSNB giúp doanh nghiệp nâng cao HQHĐ trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay. Từ mục tiêu tổng quát này tác giả đã đưa ra các mục tiêu cụ thể hơn và dựa vào đó đề xuất các câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Cũng trong chương này, tác giả xác định rõ đối tượng và phạm vi nghiên cứu cụ thể của luận án về mặt nội dung, không gian và thời gian.
Đối tượng nghiên cứu là: tác động giữa KSNB và HQHĐ của các doanh nghiệp CBTP niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Phần cuối của chương tác giả đưa ra kết cấu của luận án với 5 chương. 7 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN TÁC ĐỘNG CỦA KIỂM SOÁT NỘI BỘ TỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án KSNB luôn được coi là quan trọng bởi vai trò cũng như mục tiêu không chỉ đối với tính trung thực của báo cáo tài chính, sự tuân thủ các quy định pháp luật mà cả sự hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động trong đơn vị, thực hiện các chiến lược kinh doanh của đơn vị.
Do đó đã có rất nhiều nghiên cứu về KSNB gắn với các mục tiêu khác nhau của tổ chức. Doyle, Ge và McVey (2007) đã chỉ ra rằng KSNB trong các công ty càng yếu kém thì chất lượng các khoản dồn tích cũng sẽ giảm xuống. Điều này cũng được Lu (2010) chứng minh trong nghiên cứu thực nghiệm tại Canada và Zahra Lashgari (2015) chỉ ra tại các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Tehran từ năm 2008 đến năm 2013 - chất lượng các khoản dồn tích có mối liên hệ chặt chẽ với sự yếu kém của KSNB và phụ thuộc nhiều vào việc cung cấp môi trường thông tin và nguồn thông tin. Trong nghiên cứu “Kiểm soát nội bộ yếu kém và Chi phí vốn” của Ogneva và cộng sự (2007) cũng đã chứng minh có mối quan hệ trực tiếp giữa sự yếu kém của KSNB và chi phí vốn của các công ty ở Hoa Kỳ.
KSNB càng yếu, các nhà đầu tư và chủ nợ không hài lòng và chi phí vốn về vốn chủ sở hữu của cổ đông càng cao. Dumitrascu Mihaela và Savulescu Iulian (2012) khi phân tích hiệu quả của KSNB trong các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Bucharest – Rumani đã chỉ ra rằng KSNB hiệu quả sẽ dẫn đến việc trình bày báo cáo tài chính hợp lý và do đó làm tăng niềm tin của các bên liên quan vào báo cáo tài chính. Ở Đức, nghiên cứu của Brown (2008) cho thấy KSNB hiệu quả giúp nâng cao chất lượng các khoản thu nhập của đơn vị, hay Nerissa (2014) cũng chỉ ra KSNB và quản lý rủi ro hiệu quả sẽ giúp tăng chất lượng kế toán của công ty. Hay như ở Mỹ, khi quy định việc báo cáo KSNB của ban quản lý và kiểm toán viên năm 2001, K.
Chalmers (2019) đã xem xét về KSNB tại các doanh nghiệp và khẳng định: chất lượng KSNB của đơn vị có ảnh hưởng đáng kể đến việc ra quyết định của người sử dụng thông tin tài chính. Nghiên cứu của Yong Zhang (2014) ở Trung Quốc lại cho biết các doanh nghiệp vừa và nhỏ có KSNB hữu hiệu có thể giúp đơn vị nhận được sự tin tưởng nhiều hơn của các nhà cung cấp và nhận được lượng tài trợ tín dụng thương mại lớn hơn, từ đó giúp giảm thiểu khó khăn về tài chính cho doanh nghiệp. 8 Mối quan hệ giữa KSNB và HQHĐ của doanh nghiệp cũng được nhiều nghiên cứu đề cập. DeFond và Jiambalvo (1991) nhận xét trong các nghiên cứu trước đã chỉ ra rằng các sai phạm trên báo cáo tài chính có liên quan chặt chẽ với kết quả hoạt động của đơn vị; KSNB tốt dự kiến sẽ tăng cường HQHĐ của công ty.
Watts (1999) cũng chỉ ra rằng KSNB là cần thiết cho việc đạt được các mục tiêu tài chính và kinh tế của đơn vị, giúp nâng cao hiệu quả tài chính. Cũng theo Krishnan (2005) việc áp dụng đúng các thủ tục, chính sách KSNB sẽ cải thiện hiệu quả của tổ chức. Có một mối quan hệ tích cực giữa KSNB và HQHĐ của doanh nghiệp (theo nghiên cứu tại Sri Lanka của Wijewardena, 2004) và KSNB là chìa khóa giúp tiến trình kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra trật tự và hiệu quả (Garcia, nghiên cứu ở Châu Âu, 2004). Và những đánh giá này được làm rõ hơn trong rất nhiều nghiên cứu sau đó.
Các công trình nghiên cứu tác động của kiểm soát nội bộ tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp phản ánh qua các chỉ tiêu tài chính. Mối quan hệ giữa KSNB với hiệu quả tài chính là một nội dung được nhiều tác giả nghiên cứu, bởi ưu tiên hàng đầu của doanh nghiệp thường là hiệu quả tài chính. Hiệu quả tài chính thường được phản ánh thông qua lợi nhuận, khả năng thanh toán và khả năng sinh lời,. Các thước đo được sử dụng khác nhau tuỳ vào đặc điểm của tổ chức cũng như mục đích nghiên cứu của các tác giả.
Ở khối các đơn vị công thì có nghiên cứu của Mawanda (2008) với nghiên cứu về “Ảnh hưởng của kiểm soát nội bộ và hiệu quả tài chính trong trường đại học ở Uganda – Trường hợp trường đại học Uganda Marytrs”, đã cho thấy KSNB thích hợp sẽ giúp hiệu quả tài chính của tổ chức được cải thiện, đồng thời gia tăng sự tin cậy của báo cáo, tăng cường trách nhiệm quản lý. Cũng trong nghiên cứu này, Mawanda đã chỉ ra KSNB (đo lường bằng môi trường kiểm soát, kiểm toán nội bộ và các hoạt động kiểm soát) có liên quan đến hiệu quả tài chính của một trường đại học (đo lường bằng tính thanh khoản, trách nhiệm tài chính và báo cáo tài chính). Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, việc đo lường các biến còn hạn chế: biến môi trường kiểm soát chưa đề cập đến yếu tố cơ cấu tổ chức, biến trách nhiệm tài chính không có thang đo cụ thể,.Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ đề cập đến mối tương quan nói chung của KSNB và hoạt động tài chính mà chưa chỉ ra được mức độ tác động cụ thể của từng nhân tố của KSNB đến hoạt động tài chính của trường đại học. Một nghiên cứu khác của tác giả Muraleetharan P.
(2011) về “Ảnh hưởng của Kiểm soát nội bộ đối với hiệu quả tài chính của tổ chức – Trường hợp các tổ chức công cộng và tư nhân ở Jaffna” đã hình thành giả thiết và mô hình để kiểm tra xem liệu hệ thống KSNB có dẫn đến tăng hiệu quả tài chính của các tổ chức hay không? 9 KSNB (được xem xét đặc trưng bởi 5 yếu tố: môi trường kiểm soát, quy trình đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát) và hiệu quả tài chính (được đặc trưng bởi lợi nhuận, tính thanh khoản của tổ chức) có mối tương quan và KSNB có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả tài chính của tổ chức. Tác giả đã tiến hành thu thập thông qua bảng câu hỏi, quan sát và phỏng vấn 181 cá nhân được lựa chọn từ những nhân viên làm việc trong các văn phòng; sau đó đo lường các biến trên bằng phương pháp phân tích thống kê hồi quy. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra có mối quan hệ tích cực của đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát và giám sát đến hiệu quả tài chính của các đơn vị. Gần đây cũng có nghiên cứu của Rafiqa Irahayu Rosman (2018) ở Malaysia.
Nghiên cứu này đã chỉ ra có ảnh hưởng đáng kể của KSNB (đo lường qua các yếu tố môi trường kiểm soát, hoạt động kiểm soát, đánh giá rủi ro, giám sát) đến sự đóng góp vào ngân sách và HQHĐ của các tổ chức phi lợi nhuận ở Malaysia (đo lường theo khía cạnh tài chính và phi tài chính). Khắc phục hạn chế và kế thừa những thang đo các biến trong nghiên cứu trên của Mawanda (2008), Muhammad Hanif (2015), Lukmon Lawal (2018) đã xem xét KSNB trong lĩnh vực Ngân hàng. Nghiên cứu “Ảnh hưởng của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hiệu quả tài chính của các Ngân hàng: trường hợp các ngân hàng ở Pakistan” của Muhammad đã đánh giá tác động của 3 yếu tố là: Môi trường kiểm soát, kiểm toán nội bộ và các hoạt động kiểm soát lên hiệu quả tài chính của các ngân hàng ở thành phố Ishamabad ở Pakistan. Với dữ liệu thu được bằng phương pháp lấy mẫu thuận tiện từ 130/150 nhân viên ngân hàng, tiến hành phân tích SPSS, Hanif đã đo lường được ảnh hưởng của các nhân tố KSNB đến hiệu quả tài chính của các Ngân hàng (Môi trường kiểm soát β = .231, Kiểm toán nội bộ β = .127, hoạt động kiểm soát β =.
Tác giả kết luận rằng KSNB đáng tin cậy và hiệu quả giúp nâng cao hiệu quả tài chính của đơn vị, cùng với đó làm giảm tỷ lệ trộm cắp và thiệt hại do những sai sót gây ra. Đầu tư mạnh cho KSNB sẽ giúp giảm gian lận. Nghiên cứu khảo sát thực nghiệm của Lukmon (2018) cũng đã chỉ ra có tác động tích cực từ 5 yếu tố của KSNB là môi trường kiểm soát, mức độ ảnh hưởng của các hoạt động kiểm soát, việc đánh giá rủi ro, thông tin truyền thông và giám sát đến HQHĐ của các ngân hàng tài chính ở Nigeria, từ đó khuyến nghị các đơn vị này cải thiện KSNB để tăng cường hiệu quả tài chính tốt hơn. Và gần đây nhất, Sahabi Ibrahim & cộng sự (2017) với nghiên cứu “Ảnh hưởng của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hiệu quả tài chính: Trường hợp các tổ chức y tế ở vùng Tây Bắc Ghana” đã sử dụng mô hình hồi quy với mẫu nghiên cứu là 50 người thuộc 5 tổ chức y tế lớn trong vùng và khẳng định được có mối quan hệ tích cực giữa 10 KSNB với hiệu quả tài chính.
Đặc biệt trong 5 yếu tố của KSNB thì 3 yếu tố là hoạt động kiểm soát, kiểm toán nội bộ và giám sát có ảnh hưởng đáng kể nhất. Tác giả cũng nhấn mạnh các tổ chức y tế cần đầu tư vào KSNB để cải thiện hiệu quả tài chính của đơn vị.