CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Các khái niệm liên quan đến triết lý đạo đức 1. Các triết lý dựa trên quan điểm vị lợi (teleotology) Quan điểm đạo đức này cho rằng hành vi có thể được coi là xác đáng và có thể chấp nhận được về mặt đạo đức nếu chúng có thể mang lại một vài kết quả nào đó. Nói cách khác, các triết lý dựa vào thuyết mục đích tiếp cận với các vấn đề đạo đức qua việc đánh giá hệ quả của hành động, thể hiện qua các phương pháp: • Phương pháp Quản lý theo mục tiêu (MBO – Management By Objectives) • Phương pháp Phân tích lợi ích – chi phí (Cost Benefit Analysis) Hai đại diện quan trọng của các triết lý theo quan điểm vị lợi là chủ nghĩa vị kỷ và chủ nghĩa vị lợi.
• Chủ nghĩa vị kỷ (egoism): cho rằng một hành vi được coi là đúng đắn và có thể chấp nhận được về mặt đạo đức là khi nó có thể mang lại điều tốt hay lợi ích cho một ai đó cụ thể. Chủ nghĩa vị kỷ • Chủ nghĩa vị lợi (utilitarianism): cho rằng một hành vi đúng đắn và có thể chấp nhận được về mặt đạo đức là khi nó có thể mang lại được nhiều điều tốt, nhiều lợi ích cho nhiều người cùng hưởng. Thuyết vị lợi diễn đạt bằng ngôn ngữ toán học (Nguồn: PGS. Nguyễn Mạnh Quân, 2007) Trong đó, i là đối tượng hữu quan thứ i và Σi là tất cả các đối tượng hữu quan; j là những (lợi ích) hay (thiệt hại) của mỗi người trên phương diện j và Σj là tính cho tất cả mọi phương diện lợi ích và thiệt hại.Các triết lý dựa trên quan điểm pháp lý Nhóm này gồm các triết lý theo Thuyết đạo đức hành vi (deontology), Chủ nghĩa đạo đức tương đối (relativism), Thuyết đạo đức công lý (justice).
• Thuyết đạo đức hành vi (deontology): liên quan đến các triết lý đạo đức coi trọng quyền của mỗi người và mục đích của hành vi. Triết lý của thuyết này chú trọng đến cách thức thực hiện hành vi, chứ không phải là kết quả đạt được của hành vi 2 • Thuyết đạo đức tương đối (relativism): cho rằng chuẩn mực hành vi đạo đức được định nghĩa dựa trên kinh nghiệm chủ quan của một người hay nhóm người. Những người theo triết lý đạo đức tương đối thường lấy bản thân mình hay những người xung quanh làm căn cứ để xác định chuẩn mực hành vi đạo đức • Thuyết đạo đức công lý (justice): quan tâm những gì con người cho rằng họ có nghĩa vụ phải thực hiện, căn cứ vào quyền hạn của mỗi người và kết quả thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ 1.Các triết lý dựa trên quan điểm đạo lý Thuyết đạo đức nhân cách (virtue ethics) cho rằng đạo đức trong một hoàn cảnh cụ thể không chỉ là những quy tắc đạo đức hay đạo lý phổ thông được xã hội chấp nhận, mà hơn thế nữa còn là những gì mà một người có tư cách đạo đức tốt (nhân cách) coi là đúng đắn (Văn hoá Doanh nghiệp, PGS. Nguyễn Mạnh Quân, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2012) 1.
Đạo đức và trách nhiệm xã hội trong hoạt động quảng cáo của doanh nghiệp 1. Văn hóa doanh nghiệp Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống những ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức thừa nhận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của các thành viên. Đó là những mẫu mực về giá trị đặc trưng, hình tượng, phong cách được tổ chức tôn trọng và có tác dụng chỉ dẫn các thành viên trong tổ chức cách thức ra quyết định hợp với phương châm hành động của tổ chức. Vấn đề đạo đức trong hoạt động quảng cáo của doanh nghiệp 1.
Khái niệm về đạo đức kinh doanh trong quảng cáo Đạo đức trong hoạt động Marketing là một tập hợp các nguyên tắc và giá trị hướng dẫn doanh nghiệp triển khai tiếp thị sản phẩm và dịch vụ của mình. Những nguyên tắc này bao gồm tính trung thực, minh bạch, công bằng, tôn trọng quyền riêng tư của khách hàng và trách nhiệm với khách hàng. Là một bộ phận của marketing, hoạt động quảng cáo của doanh nghiệp cũng có vấn đề đạo đức tương tự trong marketing. Việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức trong quảng cáo cũng như marketing sẽ mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, nhưng bên cạnh đó các hoạt động quảng cáo cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ vi phạm đạo đức, gây ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội.
Chính vì vậy, đạo đức trong hoạt động quảng cáo là một trong những vấn đề cần được quan tâm nhiều nhất hiện nay bởi sự ảnh 3 hưởng của nó đối với tất cả các bên liên quan bao gồm doanh nghiệp, cơ quan quản lý, người tiêu dùng cũng như toàn xã hội. Quy tắc đạo đức trong quảng cáo • Tính tích cực: Một quảng cáo được xem là tích cực khi nó không quy phạm những điều sai: Không phân biệt tôn giáo, chủng tộc hoặc giới tính, không có thái độ hoặc hành vi chống đối xã hội, không đề cập đến những vấn đề có tính chất cá nhân, không dùng ngôn ngữ không phù hợp như tiếng lóng hoặc nói tục, không có cảnh khỏa thân,. • Độ chính xác: Quảng cáo tuyệt đối phải đảm bảo độ chính xác, đặc biệt khi đề cập đến thành phần sản phẩm, kết quả thử nghiệm,. Tuyệt đối không được dùng những từ ngữ như “tốt nhất”, “số 1”,.
• Sức truyền cảm: Quảng cáo bị đánh giá là không truyền cảm khi sử dụng các hình ảnh nhạy cảm về giới tính không liên quan đến sản phẩm, lạm dụng hình ảnh người tật nguyền hoặc thiểu năng, quảng cáo gây những cảm giác không phù hợp như sợ hãi hay căm ghét,. 4 CHƯƠNG II: TRIẾT LÝ ĐẠO ĐỨC TRONG KINH DOANH 1. Giải quyết tình huống Quyết định của nhóm nếu gặp tình huống giống với nhân vật anh Bình: Sau tình huống mà đề bài đưa ra, nếu đặt mình vào vị trí của anh Bình, nhóm chắc chắn sẽ không đưa ra quyết định như anh Bình. Vì tình huống của anh Bình là một ví dụ điển hình cho những vấn đề đạo đức phức tạp trong môi trường kinh doanh, việc đưa ra quyết định đúng đắn cần dựa trên sự cân nhắc kỹ lưỡng các yếu tố đạo đức, pháp luật và các giải pháp phù hợp.
Vi phạm đạo đức nghề nghiệp: Việc chia sẻ thông tin nhạy cảm và bảo mật của công ty cũ, đặc biệt là đối thủ cạnh tranh trực tiếp là một hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp nghiêm trọng. Hành động này của anh Bình có thể gây tổn hại nghiêm trọng đến uy tín và hoạt động kinh doanh của công ty YY, đồng thời ảnh hưởng đến uy tín và danh tiếng của bản thân anh Bình trong ngành nghề. Vi phạm pháp luật: Hợp đồng lao động của anh Bình với công ty YY có thể có điều khoản liên quan đến “nghĩa vụ bảo mật” đối với những thông tin nội bộ của công ty. Việc tiết lộ thông tin nhạy cảm có thể vi phạm luật bảo mật thông tin hoặc luật cạnh tranh (Theo quy định tại Điều 45 Luật Cạnh tranh 2018).
Khi sang làm việc cho công ty đối thủ mà tiết lộ bí mật kinh doanh của công ty cũ, người lao động có thể phải đối mặt với hình phạt tương đối khắt khe bởi hành vi này ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công ty cũ. Theo đó, ngoài việc phải bồi thường cho công ty cũ theo thỏa thuận, người lao động còn bị xử phạt vi phạm hành chính từ 100 đến 150 triệu đồng về hành vi tiết lộ, sử dụng thông tin bí mật trong kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó (theo điểm b khoản 1 Điều 16 và khoản 7 Điều 4 Nghị định 75/2019/NĐ-CP). Phân tích triết lý đạo đức 2. Các triết lý đạo đức được thể hiện thông qua hành vi của anh Bình Trong trường hợp này, hành vi của anh Bình thể hiện các triết lý theo quan điểm vị lợi, cụ thể hơn là theo chủ nghĩa vị kỷ trong sáng và chủ nghĩa vị lợi hành động.
Trong trường hợp hành vi của anh Bình theo chủ nghĩa chủ nghĩa vị kỷ trong sáng. Anh Bình đã thực hiện bài báo cáo như một phần đóng góp cho sự phát triển công ty mới, công ty XX sẽ sở hữu được các thông tin bí mật, nhạy cảm về công ty YY. Từ đó họ có thể dùng các thông tin này cho mục đích cải thiện thị phần và thị trường của công ty mình thông qua việc tước đoạt hoặc “hoá giải” lợi thế cạnh tranh với đối thủ. Để bù lại, anh Bình sẽ được hưởng các mức đãi ngộ đặc biệt của và có những cơ hội thăng tiến từ công 5 ty mới anh đang hiện đang làm việc.
Như vậy, thực chất việc tính đến lợi ích của tập thể công ty XX chỉ được coi là tiền đề cho việc thực hiện các lợi ích cá nhân của anh Bình. Trong trường hợp hành vi của anh Bình theo chủ nghĩa chủ nghĩa vị lợi hành động. Ban đầu, anh Bình đã băn khoăn về việc để hoàn thành báo cáo anh cần phải tiết lộ một số thông tin nhạy cảm và bảo mật của công ty cũ (công ty YY). Nhưng sau đó, anh đưa ra quyết định chuẩn bị và trình bày báo cáo cho sếp đầy đủ cho các yêu cầu đưa ra.Việc anh Bình bỏ qua những thiệt hại mà công ty cũ nơi anh từng công tác 11 năm phải gánh chịu để viết bài báo cáo phục vụ công ty XX là một hành vi đạo đức thể hiện chủ nghĩa vị lợi.
Vì những người theo chủ nghĩa vị lợi cho rằng một hành động sẽ được coi là đúng đắn khi và chỉ khi nó tạo ra hiệu số lớn nhất giữa cái tốt/lợi ích và cái xấu/thiệt hại cho tất cả mọi người. Như vậy, Với phương châm “Win - Win” (các bên đều có lợi) để hành động, anh Bình đã tiến hành viết báo cáo dựa trên lòng trung thành cống hiến cho công ty mới và mong muốn cùng công ty phát triển phải gánh chịu mà không quan tâm đến thiệt hại của một số đối tượng hữu quan khác (Công ty YY). Phân tích triết lý đạo đức trong tình huống 2.