CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 1. Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Thuật ngữ tiếng Anh “Corporate Social Responsibility” với ý nghĩa trách nhiệm xã hội, lần đầu tiên xuất hiện trong cuốn sách “Trách nhiệm xã hội của doanh nhân” (Social Responsibilities of the Businessmen) của H.Bowen được xuất bản năm 1953, trong đó TNXH là “những ràng buộc các doanh nghiệp thực hiện các chính sách, ra các quyết định và thực hiện các hành động được kì vọng mang lại mục đích và giá trị cho cộng đồng”, “nhằm mục đích tuyên truyền và kêu gọi người quản lý tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại do các doanh nghiệp làm tổn hại cho xã hội”. Từ đó đến nay, thuật ngữ này đã được đưa ra nghiên cứu với nhiều cách hiểu khác nhau.
Frederick (1960) đã cho rằng TNXH là “các doanh nhân cần giám sát được hoạt động của một hệ thống kinh tế nhằm thỏa mãn các kỳ vọng của công chúng”. Năm 1970, Milton Friedman trong công trình “Trách nhiệm xã hội giúp tăng lợi nhuận của doanh nghiệp” (The social responsibility of business is to increase its profits) đã cho rằng: “Chỉ có một và chỉ một loại trách nhiệm xã hội trong doanh nghiệp là việc doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực và tham gia các hoạt động để tăng lợi nhuận, tuân thủ luật chơi, không lừa dối hay gian lận”. Theo đó, ông nhấn mạnh doanh nghiệp chỉ cần thực hiện TNXH bằng việc tối đa hoá lợi nhuận theo lợi ích của các cổ đông, ngược lại trách nhiệm xã hội là thuộc về nhà nước. Keith Davis (1973) định nghĩa TNXH là “sự ràng buộc các doanh nghiệp trong quá trình đưa ra quyết định phải đánh giá các hệ quả của các quyết định đó lên hệ thống xã hội bên ngoài, sao cho vừa đóng góp các lợi ích xã hội đồng thời với các mục tiêu kinh tế mà doanh nghiệp đang tìm kiếm”.
Theo Eells và Walton (1974) thì cho rằng “Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là sự quan tâm đến các nhu cầu và mục tiêu của xã hội vượt trên lợi ích kinh tế truyền 7 thống và một sự quan tâm lớn hơn đến vai trò của doanh nghiệp trong việc hỗ trợ và cải thiện trật tự xã hội.” Trong giai đoạn này, các nghiên cứu đều chỉ ra bên cạnh mục tiêu lợi nhuận các doanh nghiệp cần tập trung vào các giá trị mà hoạt động kinh doanh mang lại cho cộng đồng ngoài những nghĩa vụ pháp lý tối thiểu được Nhà nước quy định trong luật. Như vậy, lợi ích kinh tế và lợi ích cộng đồng cần phải được chú trọng trong dài hạn. Tuy nhiên, các nghiên cứu này còn mang tính vĩ mô và chưa làm rõ được những khía cạnh cụ thể của TNXH. Carroll (1979) đã có một cách định nghĩa bao quát hơn “trách nhiệm xã hội doanh nghiệp bao gồm bốn phương diện kinh tế, pháp lý, đạo đức và nhân đạo mà xã hội đặt lên doanh nghiệp tại một thời điểm xác định”.
Sau đó đến năm 1991, ông đã xây dựng chi tiết mô hình kim tự tháp TNXH nổi tiếng với 4 tầng tương ứng với 4 cấp độ của TNXH: trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm từ thiện. Nghiên cứu của Carroll đã lần đầu tiên tạo ra, mở rộng và cụ thể hoá mối tương quan giữa 4 tầng trách nhiệm của TNXH. Đây được coi là nền móng tạo ra sự thay đổi đáng kể trong cách tiếp cận của những nghiên cứu sau này, khi tập trung vào tiêu chuẩn hóa và ứng dụng TNXH vào hoạt động doanh nghiệp. Theo Nhóm phát triển kinh tế tư nhân của Ngân hàng thế giới – World Bank Group (2003) “Trách nhiệm xã hội là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội”.
Theo Beurden và Gossling (2008) “TNXH bao gồm rất nhiều yếu tố từ nhận thức đến các hành động thực tiễn, từ đóng góp từ thiện cho đến các vấn đề xã hội, đặc biệt là bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao phúc lợi nhân viên, phát triển năng lực và phát triển cộng đồng” Kotler và Lee (2008) cho rằng “Trách nhiệm xã hội là sự cam kết cải thiện phúc lợi cộng đồng thông qua các hoạt động kinh doanh tự nguyện và sự đóng góp các nguồn lực của doanh nghiệp.” 8 Uỷ ban kinh tế thế giới về phát triển bền vững cho rằng: “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là một cam kết kinh doanh nhằm cư xử đạo đức và đóng góp cho sự phát triển kinh tế cùng với việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động và gia đình của họ cũng như chất lượng cuộc sống của cộng đồng và xã hội nói chung” (Phạm Văn Đức, 2009). Liên minh châu Âu (2011) lại viết về TNXH : “là một quá trình mà các công ty tích hợp các vấn đề xã hội, môi trường và đạo đức vào các hoạt động kinh doanh và chiến lược của họ trong sự tương tác chặt chẽ với các bên liên quan, vượt trên những yêu cầu của pháp luật và thỏa ước tập thể”. Hội đồng kinh doanh thế giới về Phát triển bền vững (World Business Council for Sustainable Development) cũng đã đưa ra một định nghĩa về TNXH, đó là “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là cam kết của công ty đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững thông qua việc tuân thủ chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên, phát triển cộng đồng,… theo cách có lợi cho cả công ty cũng như cho phát triển chung của xã hội”. Đây có thể coi là định nghĩa phổ biến và được công nhận, sử dụng rộng rãi trong lý luận và thực tiễn doanh nghiệp.
Nó chỉ ra vượt lên trên lợi ích kinh tế mà còn góp phần nâng cao, kiến thiết tiêu chuẩn cuộc sống, thoả mãn kì vọng xã hội. Đồng thời, đặt trách nhiệm xã hội trong mục tiêu phát triển bền vững và hài hoà lợi ích các bên liên quan trên cơ sở tinh thần tự giác thực hiện vì những giá trị tốt đẹp chung. Lợi ích đối với doanh nghiệp khi thực hiện trách nhiệm xã hội * Góp phần điều chỉnh hành vi của chủ thể kinh doanh TNXH của doanh nghiệp phản ánh sự cam kết của doanh nghiệp trong việc thực hiện mục tiêu lợi ích kinh tế song hành với các hoạt động đóng góp cho sự phát triển chung của cộng đồng, xã hội. Thực tế cho thấy, khi một doanh nghiệp quan tâm đến việc thực hiện TNXH thì sẽ góp phần cải thiện tình hình tài chính, giảm các loại chi phí quản lý sản xuất, hạn chế tần suất và mức độ các rủi ro có thể xảy ra.
Bên cạnh đó, khi người lao động được làm việc trong một môi trường với các điều kiện lý tưởng, chế độ lương thưởng hợp lý, lộ trình đào tạo, thăng tiến có quy củ thì sẽ tạo 9 động lực cho họ làm việc năng suất hơn, tạo ra các sản phẩm dịch vụ đủ sức cạnh tranh để mở rộng thị trường tiếp cận với thị trường thế giới. Ngày nay trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt cả trong lẫn ngoài nước, sự hưng thịnh hay suy vong của doanh nghiệp không chỉ được quyết định chủ yếu bằng chất lượng sản phẩm dịch vụ mà còn phụ thuộc một phần không nhỏ vào đạo đức kinh doanh của chủ thể. Chính hành vi ứng xử chuẩn mực và sự quan tâm đến lợi ích các bên trong các hoạt động thuê mướn với người lao động, kí kết với các đối tác, giao thương với khách hàng, … sẽ giúp doanh nghiệp lấy được sự hài lòng và tin tưởng từ họ, kết quả là được hưởng lợi từ các mối quan hệ thân thiết này. Do đó, các doanh nghiệp hơn bao giờ hết ý thức được tầm quan trọng của việc thực hiện TNXH.
Nó đã, đang và sẽ trở thành kim chỉ nam định hướng và điều chỉnh hành vi của doanh nghiệp hướng đến mục tiêu phát triển bền vững. * Góp phần tăng lợi nhuận - Giảm chi phí: Với việc đầu tư những dây chuyền sản xuất hiện đại thân thiện với môi trường sẽ tốn kém chi phí ban đầu, tuy nhiên xét trên lợi ích lâu dài thì sẽ giảm thiểu được chi phí điện nước, chi phí xử lý chất thải, chi phí thuê mướn nhân công. Đồng thời với điều kiện môi trường làm việc an toàn và các chế độ đãi ngộ xứng đáng, cơ hội đào tạo thăng tiến rõ ràng sẽ làm giảm tỉ lệ nhân viên nghỉ việc, từ đó giảm chi phí xử lý tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; chi phí tuyển mộ, tuyển dụng và đào tạo, phát triển nhân viên mới. - Tăng năng suất: Doanh nghiệp thực hiện tốt TNXH là đảm bảo thoả mãn những nhu cầu về cả vật chất và tinh thần, thậm chí vượt qua cả sự kỳ vọng cơ bản của họ.
Khi đó, doanh nghiệp đã tinh tế lấy được sự hài lòng và xây dựng được mối quan hệ bền chặt với họ. Cuối cùng là doanh nghiệp sẽ nhận được lợi ích đáng kể. Theo đó, nhận được chế độ đãi ngộ tốt, người lao động sẽ có động lực để làm việc và cống hiến hết mình cho doanh nghiệp. Và cùng với các công nghệ kỹ thuật hiện đại, số lượng và chất lượng sản phẩm sẽ tăng, từ đó năng suất công việc dần được nâng cao.
- Giảm phế phẩm, tăng chất lượng sản phẩm: Một trong những vấn đề nan giải của hoạt động kinh doanh là sản phẩm lỗi hỏng. Đây là một trong những lí do 10 chủ yếu làm tăng chi phí, tăng giá thành sản phẩm. Sở dĩ, tình trạng này xảy ra là do nguyên nhân khách quan điều kiện thiếu thốn, cường độ làm việc liên tục, nguyên nhân chủ quan từ chính trình độ, tay nghề non kiếm của người lao động. Khi doanh nghiệp thực hiện tốt TNXH thì cả sức khoẻ lẫn tinh thần của người lao động sẽ được đảm bảo, góp phần làm giảm tỉ lệ lỗi hỏng, giảm giá thành và .tăng chất lượng sản phẩm.