mở đầu cho thời kỳ đổi mới đất nước, Đảng ta đưa ra chủ trương tranh thủ những điều kiện thuận lợi về hợp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật, tham gia ngày càng rộng rãi vào việc phân công và hợp tác quốc tế trong "Hội đồng tương trợ kinh tế và mở rộng với các nước khác". Tới Đại hội VII, Đảng ta định hướng "đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ với các quốc gia, các tổ chức kinh tế". Tại Đại hội VIII, thuật ngữ "hội nhập" bắt đầu được đề cập trong các văn kiện của Đảng: "Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới". Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh việc "chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa".
Ngày 27/11/2001, Bộ Chính trị khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW "Về hội nhập kinh tế quốc tế". Tại Đại hội X, Đảng ta đã nhấn mạnh chủ trương "chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác". Ngày 05/02/2007, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW "Về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới". Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới, trong đó có chủ trương rất quan 19 trọng là "chủ động và tích cực hội nhập quốc tế".
Từ "hội nhập kinh tế quốc tế" của các kỳ đại hội trước, chuyển sang "hội nhập quốc tế" một cách toàn diện là một phát triển quan trọng về tư duy đối ngoại của Đảng ta tại Đại hội XI. Ngày 10/4/2013, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về hội nhập quốc tế. Đây là văn kiện quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, làm rõ và thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân về hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Nghị quyết đã xác định rõ hội nhập quốc tế sẽ được triển khai sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt, hội nhập kinh tế phải gắn với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế.
- "Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam sau gần 30 năm đổi mới" của Nguyễn Độ [54] cho là: Đại hội Đảng lần thứ VII (năm 1991), Việt Nam đã xác định rõ chủ trương "độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại" với phương châm "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển". Từ đây đã đánh dấu bước khởi đầu tiến trình hội nhập trong giai đoạn mới của Việt Nam. Thực hiện chủ trương này, Việt Nam đã không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế đối ngoại song phương và đa phương với nhiều đối tác, dưới nhiều hình thức, trên nhiều lĩnh vực (trao đổi hàng hóa, đầu tư sản xuất, mở rộng quan hệ tài chính - tín dụng, hợp tác khoa học kỹ thuật), tạo ra môi trường kinh doanh trong nước thuận lợi và khai thác hiệu quả các nguồn lực bên ngoài phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước. Thực tế giai đoạn đó cho thấy chủ trương đúng đắn của Đảng đã đánh dấu bước khởi đầu của Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế.
NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY * Những công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam hiện nay Doanh nghiệp nhà nước có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP). Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước điều tiết nền kinh tế thông qua sử dụng các công cụ điều tiết, trong đó DN là công cụ đặc biệt quan trọng. Với vai trò và tầm quan trọng trong nền kinh tế - xã hội Việt Nam, từ lâu những vấn đề liên quan đến DNNN luôn là chủ đề được nhiều 20 người quan tâm. Đã có rất nhiều bài viết phân tích về những thành tựu đạt được, và cũng có từng đó bài viết chỉ ra những hạn chế yếu kém trong hoạt động của loại hình DN này như: "Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" của Trần Đăng Bộ [12]; "Nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" của Nguyễn Khánh Ly [82]; "Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước sau thực hiện cổ phần hóa" của Nguyễn Duy Long [81]; "Doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" của Phương Ngọc Thạch [113]; "Không thể phủ nhận vai trò kinh tế nhà nước và tuyệt đối hóa kinh tế tư nhân" của Chu Văn Cấp [28]; "Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo" của Lê Hữu Thành [114]; "Nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước" của Đỗ Phú Thọ [128]… Điểm chung của các công trình này đều cho rằng: DNNN qua nhiều lần sắp xếp, chuyển đổi từng bước được củng cố và đóng góp vào thành tựu của quá trình đổi mới.
Nhiều DNNN đứng vững trên thị trường, sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, nắm các ngành kinh tế then chốt, đóng góp lớn cho ngân sách. Tuy nhiên, hiệu quả kinh doanh và đóng góp của phần lớn DNNN còn thấp, chưa tương xứng với nguồn lực nhà nước đầu tư vẫn còn nhiều nhiệm vụ nêu ra đã thực hiện không hiệu quả. Thực tế, vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế NN chưa được phát huy, nhiều DNNN đã sử dụng chính sách "kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực", tham gia thành lập các ngân hàng, công ty tài chính, đầu tư bất động sản và chứng khoán với lợi nhuận lớn, ít đầu tư vào lĩnh vực chính của mình. Trình độ kỹ thuật, công nghệ lạc hậu đã và đang là lực cản lớn đối với quá trình nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của DNNN, một số đơn vị hoạt động mang tính độc quyền còn cao, nâng giá, ảnh hưởng đến thị trường; Sử dụng vốn NN nhiều nhưng hiệu quả thấp, làm ăn thua lỗ, thất thoát, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với những dự án đầu tư hàng ngàn tỉ đồng "đắp chiếu", làm trầm trọng thêm nợ xấu ngân hàng và nợ công quốc gia, gây bức xúc trong nhân dân làm tăng nợ NN, nhiều DNNN chưa gắn yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị - xã hội với hoạt động kinh doanh.
Tuy nhiên, nghiên cứu chuyên sâu về thực trạng việc thực hiện TNXHDNNN vẫn đang có nhiều khoảng trống. Đinh Thị Cúc trong luận án đã bước 21 đầu chỉ ra những thành tựu cơ bản của DNNN trong thực hiện trách nhiệm đối với xã hội. Theo tác giả thì DNNN luôn đi đầu trong tạo ra của cải vật chất cho xã hội và làm giàu ngân sách cho NN [41, tr.63]; Cơ bản đã tạo ra nhiều công ăn việc làm mới với mức lương bình quân cao hơn mức lương bình quân của các DN trong nước [41, tr.64]; Đứng đầu trong top các DN làm ăn hiệu quả cũng như thực hiện tốt TNXH [41, tr. Và cũng trong công trình này tác giả cũng đã chỉ ra những hạn chế nổi bật trong thực hiện TNXHDNNN: Đó là tình trạng về làm ăn thua lỗ, nợ nần, phá sản [41, tr.
Tác giả chỉ ra: Tổng số nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty NN năm 2010 là 1.290 tỉ đồng, bình quân bằng 1,67% lần vốn chủ sở hữu; Tình hình kinh doanh kém hiệu quả, nợ nần chồng chất dẫn đến làm thất thoát vốn NN khá lớn. Tính chung đến cuối năm 2010, các tập đoàn và tổng công ty NN đã đầu tư 21.814 tỷ đồng (chiếm 34% tổng vốn sở hữu) vào chứng khoán, bảo hiểm, quỹ đầu tư, ngân hàng, bất động sản. Khi các lĩnh vực này gặp khó khăn, giá trị tài sản mất giá thì các DN đều mất các khoản vốn chủ sở hữu lớn. Trong giai đoạn 2006 - 2010, khu vực DNNN trung bình chỉ tạo ra khoảng 28% GDP, giảm từ mức 30% của giai đoạn 2001-2005.
Một điểm đáng chú ý ở đây là gần 50% đóng góp vào GDP của khu vực DNNN là từ khai thác tài nguyên như dầu khí, khoáng sản. Khi DNNN làm ăn thua lỗ, nợ nần chồng chất thì công ăn việc làm mà loại hình DN này tạo ra bị giảm sút. Kết quả điều tra DN của Tổng cục Thống kê cho thấy tỷ trọng lao động của khu vực DNNN đã giảm rất nhanh từ mức 44% trong giai đoạn 2001-2005 xuống chỉ còn 23% trong giai đoạn 2006-2009. Không những thế, tỷ lệ tạo ra việc làm mới cũng giảm một cách tương ứng từ -4% xuống -13% [41, tr.
Những DNNN trong lĩnh vực công ích đáng lẽ phải đi đầu gương mẫu trong thực hiện TNXH, thế nhưng tình trạng lãnh đạo nhận lương cao bất thường, đối xử bất bình đẳng với người lao động đã gây nên dư luận không tốt. Tác giả chỉ ra tình hình thực tế về chế độ lương của 3 công ty dịch vụ công ích thành phố, gồm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên (CT1TV) Thoát nước đô thị Thành phố Hồ Chí Minh, CT1TV Chiếu sáng công cộng Thành phố Hồ Chí Minh, CT1TV Công trình giao thông Sài Gòn, chỉ riêng trong năm 2012, số tiền lương đã chi sai lên đến hơn 6 tỉ đồng [41, tr. 22 Một số DNNN cũng tham gia phá rừng, khái thác tài nguyên bừa bãi [41, tr. Tác giả luận án cũng đã chỉ ra hai nguyên nhân cơ bản dẫn đến những hạn chế trong thực hiện TNXHDNNN: Một là, Quy mô của DNNN lớn và nhiều cho nên dẫn đến sự kiểm soát lỏng lẻo [41, tr.67]; Hai là, tình trạng đầu tư ra ngoài ngành của nhiều DNNN đã đánh mất đi lợi thế cạnh tranh, lợi thế so sánh của mình.
Chính do sự phân tán các nguồn lực và thiếu kinh nghiệm của bộ máy quản lý, bên cạnh đó kiểm soát lỏng lẻo đã dẫn đến những hệ lụy của nó [41, tr.