Chương 1. Giới thiệu tổng quan Chương 2. Tổng quan lý thuyết 2.1 Khung khái niệm về đầu tư tư nhân, FDI và quản trị công 2.2 Khung lý thuyết về đầu tư tư nhân, FDI và quản trị công 2.3 Đánh giá các nghiên cứu thực nghiệm 2.4 Nhận xét và khoảng trống trong nghiên cứu Chương 3. Mô hình thực nghiệm, phương pháp và dữ liệu nghiên cứu 3.2 Phân tích thực nghiệm Phương pháp nghiên cứu Dữ liệu nghiên cứu và mô tả các biến Chương 4.
Tác động của FDI lên đầu tư tư nhân ở các nước đang phát triển Chương 5. Tác động của quản trị công, FDI lên đầu tư tư nhân ở các nước đang phát triển Chương 6. Tổng kết và gợi ý chính sách. 10 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2.
KHUNG KHÁI NIỆM 2. Khái niệm Đầu tư Đầu tư, theo kinh tế học vĩ mô, là sự gia tăng về chi phí nhằm tăng cường năng lực sản xuất trong tương lai, vì thế đầu tư còn được gọi là hình thành vốn hoặc tích lũy vốn. Đầu tư vốn con người bao gồm chi phí học bổ sung hoặc đào tạo chuyên môn. Tổng đầu tư còn là một thành phần của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), được đưa ra trong công thức GDP = C + I + G + NX (C là tiêu dùng, G là chi tiêu chính phủ, và NX là xuất khẩu ròng).
Đầu tư là một hàm đa biến. Một cách tổng quát hơn là một hàm của thu nhập và lãi suất: I = f(Y, r). Trong đó, sự gia tăng thu nhập thúc đẩy đầu tư cao hơn; lãi suất có quan hệ nghịch với đầu tư do làm tăng chi phí tài trợ vốn cho dự án đầu tư. Theo Tchouassi & Ngangue (2014), đầu tư là hoạt động tích lũy, làm gia tăng vốn đầu tư tài chính và vốn vật chất hữu hình (như nhà máy, máy móc, nhà xưởng và hàng hóa tồn kho).
Trong khi đó, đầu tư tài chính là việc mua tài sản, danh mục tài chính nhằm thu được lợi nhuận trong một thời gian nhất định. Tất cả các loại đầu tư đều có rủi ro, những rủi ro này có thể đến từ môi trường quản trị công, môi trường đầu tư, hoặc ảnh hưởng của các yếu tố vĩ mô… khi đầu tư vào vốn chủ sở hữu, tài sản và thậm chí là chứng khoán. Để kiểm soát rủi ro liên quan đến đầu tư, các nhà đầu tư cần xác định được rủi ro và đưa nó vào chi phí khi thực hiện dự án đầu tư. Các lý thuyết liên quan đã tìm ra nhiều hình thức đầu tư khác nhau như: đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp (danh mục đầu tư); đầu tư trong nước hoặc đầu tư ngoài nước; đầu tư công hoặc tư nhân.
Đầu tư tư nhân là hình thức công ty thuộc sở hữu tư nhân hoặc cá nhân sử dụng các nguồn lực trong một khoảng thời gian nhất định nhằm thu được lợi ích về. Đầu tiên là việc đầu tư vào hàng tồn kho, làm gia tăng nguyên vật liệu, phụ tùng , hàng thành phẩm; tiếp theo là đầu tư cố định, gồm tất cả các tài sản, hàng hóa mà doanh nghiệp mua vào không nhằm mục đính bán lại (Mlambo & Oshikoya, 2001). Theo Tchouassi & Ngangue (2014), trong đầu tư tư nhân có đầu tư vốn con người và đầu tư vật chất. Đầu tư vốn con người là đầu tư vào giáo dục và đào tạo lực lượng lao động (nhà quản lý, doanh nhân…).
Đầu tư vật chất là đầu tư cơ sở hạ tầng (nhà cửa, chỗ ở, phân xưởng…) và trang thiết bị (máy móc, vận tải). Đầu tư vào thiết bị được xem là yếu tố chủ chốt, tác động đến tăng trưởng kinh tế ngắn hạn, trong khi đó đầu tư vào vốn con người có tác động trong dài hạn. Còn theo World Bank, đầu tư tư nhân là khoản vốn đầu tư bằng tiền và các khoản chi của khu vực tư cho các tài sản cố định trong nước. Nguồn vốn của đầu tư tư nhân bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay, trong đó: (i) vốn chủ sở hữu là vốn tự có và lợi nhuận giữ lại trong quá trình sản xuất kinh doanh; (ii) vốn vay là vốn vay từ các tổ chức tín dụng và huy động vốn (phát hành chứng khoán).
Đầu tư tư nhân là một phần chính của nền kinh tế thị trường, tại các nước đang phát triển thì đầu tư tư nhân có tác động mạnh đến tăng trưởng so với đầu tư công (Ghura, 1997; Khan & Reinhart, 1990). Khái niệm Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Theo Quỹ tiền tệ quốc tế IMF (1997), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư ra khỏi biên giới nước, trong đó nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp đầu tư trực tiếp đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp ở một nước khác và quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp. Theo Tổ chức tương mại thế giới (WTO), FDI là hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được diễn ra khi một nhà đầu tư tại một quốc gia (nước chủ đầu tư) có sự chuyển dịch tài sản để sở hữu một tài sản tại một nước nào đó (nước tiếp nhận đầu tư) và có quyền quản lý tài sản đó. 12 Qua các khái niệm trên, có thể đưa ra nhận định là dòng vốn đầu tư FDI là sự dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế dưới dạng vốn sản xuất thông qua việc nhà đầu tư ở nước này đưa vốn vào nước khác để đầu tư, nhằm thiết lập những cơ sở để sản xuất và tận dụng ưu thế về kinh nghiệm quản lý, trình độ công nghệ, vốn, … nhằm mục tiêu có được lợi nhuận, đồng thời chi phối hoặc nắm toàn bộ quyền kiểm soát doanh nghiệp.
Trong khi đó ở gốc độ về quyền sở hữu thì về bản chất, dòng vốn đầu tư FDI được thực hiện với quyền sở hữu về tài sản đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài. Còn ở gốc độ cán cân thanh toán, dòng vốn đầu tư FDI thường được xác định là giá trị sổ sách tăng thêm của lượng đầu tư ròng tại một nước nào đó do nhà đầu tư từ nước ngoài thực hiện, đồng thời họ là chủ sở hữu chính và là người sẽ nắm toàn bộ quyền nhằm kiểm soát quá trình đầu tư đó. Như vậy, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước đi đầu tư vào nước tiếp nhận đầu tư bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất kinh doanh, và họ sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này tại nước tiếp nhận đầu tư. Khái niệm Quản trị công 2.
Quản trị công Quản trị công bao gồm những giá trị, những chuẩn mực truyền thống và những thể chế mà thông qua đó quyền lực ở một nước được áp dụng. Điều này hàm chứa cả quá trình chính phủ được chọn lựa, thay thế, và giám sát dựa trên các giá trị và chuẩn mực này; khả năng của chính phủ ban hành và thực hiện một cách hiệu quả với những chính sách phù hợp; sự tuân thủ của công dân và nhà nước đối với quản trị công khi có sự chi phối, tương tác kinh tế và xã hội giữa họ. Quản trị công được thu thập và khảo sát bởi World Bank để đánh giá môi trường quản trị công của một nước, thể hiện cảm nhận của các công dân về việc thực thi quản trị công chính trị của nhà nước đối với các vấn đề kinh tế và xã hội (Kaufmann et al. 13 Quản trị công đóng một vai trò rất quan trọng vì sự khác biệt về chất lượng quản trị công cuối cùng sẽ dẫn đến sự khác biệt về thành quả của phát triển.
Trong một xã hội thì quản trị công đóng vai trò chính làm giảm tính rủi ro thông qua việc cung cấp một nền tảng chính cho các hoạt động diễn ra hàng ngày. Do vậy, cũng những giao dịch đó nhưng được thực hiện ở một các nơi khác thì phải tuân thủ theo một luật lệ khác. Từ việc tiếp cận này, quản trị công sẽ định ra và giới hạn tập hợp những lựa chọn của cá nhân (North, 1990). Nền tảng của nền kinh tế thị trường, như chúng ta biết là dựa trên trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các cá nhân với nhóm người với nhau.
Nếu không có quản trị công thì các hoạt động trao đổi này không thể diễn ra, bởi người này không thể tương tác với người khác nếu không có sự mặc định chung, sự chế tài khi giữa họ có những hành động tùy tiện và đi ngược lại với thỏa thuận. Các cá nhân và doanh nghiệp chỉ có thể đầu tư, mua bán, thuê mướn lao động nếu họ có một mức độ tin tưởng nhất định rằng các thỏa thuận hợp đồng của họ sẽ được thực hiện (Kasper & Streit, 1999). Nếu không có quản trị công thì tương tác giữa người với người trở nên đầy bất trắc, rủi ro và là mảnh đất màu mỡ cho các hành vi lừa đảo, cơ hội, thoái trách nhiệm. Khi đó, chi phí của các giao dịch kinh tế trở nên rất cao và rất rủi ro làm cho các hoạt động này khó xảy ra và không hiệu quả.
Vai trò của quản trị công là làm giảm tính bất định và loại trừ rủi ro của các giao dịch kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua trao đổi, tăng kinh tế qui mô và tăng cường phân công lao động. Trong những thập kỷ gần đây, xu hướng nghiên cứu về quản trị công đã được triển khai rộng khắp, thuật ngữ “Kinh tế học quản trị công” đã được áp dụng nhiều hơn trong những nghiên cứu đến từ ý tưởng về chi phí giao dịch của các hoạt động kinh tế. Tiêu biểu là Ronald Coase đã đặt nền tảng cho việc xem xét quản trị công theo một cách tiếp cận mới. Coase (1998) chỉ ra rằng các chi phí giao dịch phụ thuộc vào quản trị công của một quốc gia gồm hệ thống giáo dục, hệ thống chính trị, hệ thống luật pháp, hệ thống xã hội, nền văn hóa.
Trên thực tế chính các điều này chi phối các hoạt động của nền kinh tế. Xuất phát từ nền móng này hai nhà kinh. 14 tế học đạt giải Nobel là Douglas North và Oliver Williamson, họ đã tiếp tục nghiên cứu các vấn đề chuyên sâu về quản trị công và xem xét các tác động của nó tới quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia.