CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN 1.1 Lý do lựa chọn đề tài gày nay, xu thế hội nhập quốc tế đang diễn ra nhanh chóng trên mọi lĩnh vực và là một xu thế tất yếu chung đối với các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các quốc gia đang phát triển có cơ hội đi tắt đón đầu trong việc tiếp cận với công nghệ mới, tận dụng các nguồn vốn từ bên ngoài. Trong quá trình tăng trưởng kinh tế, mỗi quốc gia không chỉ trông đợi vào nguồn vốn sẵn có ít ỏi của bản thân mình mà cần phải thu hút cả những nguồn vốn bên ngoài. Việc sử dụng vốn vay nước ngoài hợp lý sẽ đem lại những hiệu quả hết sức to lớn, tạo được lợi thế của những người đi sau.
Đây chính là sự chọn lựa thông minh để rút ngắn thời gian tích lũy vốn, nhanh chóng thúc đẩy phát triển đất nước. Tuy nhiên, việc sử dụng vốn vay cũng chính là tạo cho mình một khoản nợ đáng kể, đặt ra cho các quốc gia đang phát triển những thách thức, khó khăn. Đã có nhiều cuộc khủng hoảng nợ xảy ra trong lịch sử các quốc gia đang phát triển. ăm 1982, khi exico tuyên bố vỡ nợ, đã bắt đầu cho cuộc khủng hoảng nợ tại các quốc gia ỹ La Tinh.
ột loạt các quốc gia bị kéo vào vòng xoáy này và mất rất nhiều thời gian sau đó mới khắc phục được hậu quả, như Argentina (1982, 1989) Brazil (1983, 1986-1987), Ecuador (1982, 1984). Sau đó, cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á 1997, bắt nguồn từ việc Thái Lan mất kiểm soát tỷ giá đồng nội tệ đã châm ngòi cho cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á, tạo thành cơn bão càn quét qua các các quốc gia Thái Lan, alaysia, Indonesia và àn Quốc. Đến năm 1998, ga phá giá đồng rúp, tuyên bố vỡ nợ và đóng băng dòng vốn do đầu tư sụt giảm. Tháng 12/2001, Argentina từ bỏ cơ chế neo tỷ giá và tuyên bố vỡ nợ do các nhà đầu tư không sẵn lòng cơ cấu lại nợ khi đáo hạn.
Và gần đây nhất là cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu bắt đầu từ nửa sau 2009 với sự gia tăng mức nợ công của nhóm IIGS (Bồ Đào ha, Ireland, Ý, y Lạp và Tây Ban ha). Để tránh rơi vào khủng. 2 hoảng kinh tế, chính phủ ở nhiều quốc gia đã giải cứu hệ thống ngân hàng thông qua chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ mở rộng. Điều này đã góp phần làm gia tăng lượng nợ khổng lồ ở nhiều nước.
hi đề cập đến nợ, các quốc gia đang phát triển luôn nghĩ đến hai nguồn lực là nợ trong nước và nợ nước ngoài. So với các nước phát triển, các nước đang phát triển không có nhiều nguồn lực để phát triển kinh tế. hần lớn các quốc gia này phải vay nợ trong nước và nước ngoài. Tuy nhiên, nguồn vốn trong nước cũng tương đối khan hiếm nên phần lớn nợ vay ở các nước đang phát triển đến từ nợ nước ngoài.
Trong khi đó, hầu hết các quốc gia đang phát triển trên thế giới đều thiếu các nguồn lực quan trọng cho sự phát triển và tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống và giảm nghèo. ức sống người dân thấp nên mức tích lũy vốn không cao, lượng tiết kiệm không nhiều nên nguồn vốn dành cho đầu tư phát triển còn ít. Dân số đông nên nguồn tài nguyên thiên nhiên lấy theo bình quân đầu người sẽ trở nên ít ỏi, chủ yếu được khai thác và xuất ra nước ngoài dưới dạng thô, không có công nghệ để nâng cao giá trị gia tăng, nên giá trị mang lại không cao. Bên cạnh đó, phần lớn các quốc gia đang phát triển đều là những nước nông nghiệp với các phương thức canh tác và chăn nuôi còn lạc hậu, và chỉ số phát triển con người hay vốn con người tương đối thấp vì tuổi thọ trung bình thấp và tỷ lệ người biết chữ thấp do phải lo toan cho việc mưu sinh.
ầu hết lực lượng lao động đều tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp và tập trung ở vùng nông thôn nên tỷ lệ thất nghiệp do thời gian nông nhàn tăng cao. Vì những lý do đó, nên nguồn lực huy động nợ trong nước là cực kỳ hạn chế. Vấn đề huy động nợ nước ngoài được đặt ra đối với các quốc gia đang phát triển. hững năm 50-60 của thế kỷ trước, các lý thuyết chung về nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế cho rằng việc tiếp nhận các nguồn lực bên ngoài vào các nước đang phát triển là cần thiết để bổ sung các nguồn vốn thiếu hụt trong nước (Samuelson & ordhaus, 1976; Chenery & Strout, 1966; Bacha, 1990; Solimano, 1990, Taylor, 1994).
Với nguồn lực này, các nước đang phát triển có thể sử dụng để chuyển đổi nền kinh tế, cải tạo cơ sở hạ tầng, nhằm tạo mức tăng trưởng cao. Đặc biệt, nguồn lực đến từ nợ nước ngoài chiếm tỷ trọng lớn, phát huy tác dụng trong thời gian đầu. 3 khá hiệu quả. Sau đó, việc huy động nợ ngày càng nhiều, không đem đến hiệu quả tốt như trước nữa, mà đã đẩy các quốc gia này vào việc sa lầy do mắc nợ quá nhiều.
Lúc này, các cơ quan viện trợ, các định chế tài chính quốc tế và các nước phát triển đã đặt trọng tâm vào chất lượng quản trị công như một tiêu chí để phân bổ viện trợ tài chính cho các nước đang phát triển. Điều kiện viện trợ nước ngoài này dựa trên sự nhất trí chung rằng quản trị công tốt hơn dẫn đến kết quả kinh tế tốt hơn. iện tại, nợ nước ngoài ở các quốc gia đang phát triển do khu vực công vay mượn chiếm đa số. ặc dù khu vực công là người vay nợ và sử dụng lượng tiền vay nhưng việc trả nợ có thể trở thành gánh nặng cho người dân trong tương lai thông qua các khoản thuế cao của nhà nước.
Điều này đòi hỏi cần phải có môi trường quản trị công phù hợp để có thể giám sát và quản lý hiệu quả nợ nước ngoài, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển. Ý nghĩa khoa học: Xuất phát từ việc nợ nước ngoài ngày càng tăng có thể góp phần làm suy giảm kinh tế, tác giả xem xét vai trò của quản trị công trong mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển. ầu hết các nghiên cứu về nợ nước ngoài hoặc nghiên cứu về mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế ( ohd Daud & odivinsky, 2012; 𢡄amzan & Ahmad, 2014; Siddique et al., 2016) hoặc mối quan hệ giữa quản trị công với nợ nước ngoài (Oatley, 2010) hay với nợ công ( eylen et al., 2013; Cooray et al. Trong nghiên cứu học thuật thuộc chủ đề nghiên cứu của luận án, có thể nói Qayyum et al.
(2014) là nghiên cứu đầu tiên thiết lập khung phân tích lý thuyết. Theo đó, Qayyum et al. (2014) phân tích và phát triển khung phân tích lý thuyết dựa trên mô hình tăng trưởng 𢡄amsey– Cass– oopman cho một nền kinh tế mở để kết nối bộ ba nợ nước ngoài, chất lượng quản trị công và tăng trưởng kinh tế. ết quả phân tích cho thấy viện trợ nước ngoài và quản trị công hỗ trợ mạnh cho tăng trưởng kinh tế nhưng nợ nước ngoài lại tạo nên một gánh nặng cho nền kinh tế.
Đặc biệt, quản trị công đóng vai trò quan trọng trong tác động của nợ nước ngoài lên tăng trưởng kinh tế. Quản trị công sẽ trở thành. 4 chất xúc tác chính, kiểm soát tốt và hiệu quả hơn việc vay, quản lý và sử dụng nợ nước ngoài để từ đó nợ nước ngoài có đóng góp quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Qayum, tác giả nhận thấy vẫn còn một số hạn chế.
Trong nghiên cứu của Qayyum & aider (2012) không đưa biến tương tác giữa nợ nước ngoài và chất lượng quản trị công vào trong mô hình tăng trưởng để xem xét tác động của biến tương tác này đối với tăng trưởng. Việc kiểm định tương quan giữa hai biến này trước khi xem xét tác động của chúng lên tăng trưởng kinh tế, sẽ cho chúng ta một số hàm ý chính sách trong quá trình cải cách môi trường quản trị công. Bên cạnh đó, Qayyum & aider (2012) sử dụng fixed effects và random effects và Ouedraogo (2015) sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số EC có một số nhược điểm là không xử lý tốt hiện tượng nội sinh và hiện tượng tự tương quan chuỗi. goài ra, Qayyum & aider (2012) chỉ sử dụng 3 biến thành phần quản trị công của World Bank, số lượng biến quá ít trong khi hiện nay, chúng ta đã sử dụng cả 6 biến thành phần để xem xét việc cải cách chất lượng quản trị công.
Cuối cùng, Qayyum & aider (2012) chưa chia tách các mẫu nhỏ hơn để kiểm định việc sử dụng nợ nước ngoài hiệu quả như thế nào ở các nhóm quốc gia khác nhau trong các nước đang phát triển. Vì vậy, tác giả quyết định chọn đề tài “Quản trị công, nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia đang phát triển” để phân tích và nghiên cứu.2 Mục tiêu nghiên cứu Để xem xét vai trò của quản trị công trong mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế tại các nước đang phát triển trong giai đoạn 2000-2014, đề tài hướng đến hai mục tiêu như sau: (1) hân tích và đánh giá tác động của quản trị công lên nợ nước ngoài cho các nước đang phát triển. 5 (2) Đánh giá tác động của quản trị công lên mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế tại các nước đang phát triển. Luận án trình bày mục tiêu thứ nhất để xem xét tương quan giữa quản trị công, nợ nước ngoài và hình thành biến tương tác giữa quản trị công và nợ nước ngoài tại các quốc gia đang phát triển giai đoạn 2000-2014 để sử dụng cho mục tiêu thứ hai.
Theo đó, luận án hướng đến trả lời câu hỏi: có tồn tại tương quan giữa quản trị công và nợ nước ngoài hay không? ức độ tương quan như thế nào? Ở mục tiêu thứ hai, luận án làm rõ tác động của quản trị công lên mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế thông qua biến tương tác giữa quản trị công và nợ nước ngoài đã kiểm định ở mục tiêu thứ nhất. Với mục tiêu này, luận án cần làm rõ việc có tồn tại mối quan hệ tương quan giữa quản trị công lên nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế hay không?