Luận văn thạc sĩ UEH: Các nhân tố ảnh hưởng xuất khẩu thủy sản Việt Nam đến TPP

Luận văn thạc sĩ UEH phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến xuất khẩu thủy sản Việt Nam tới các nước TPP, cung cấp cái nhìn sâu sắc.

Chuyên ngành

Kinh tế phát triển

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

98
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. Lý do nghiên cứu

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

1.5. Kết cấu của đề tài

2. CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT

2.1. Lý Thuyết về thương mại quốc tế

2.2. Mô hình hấp dẫn trong thương mại

2.2.1. Nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến cung

2.2.2. Nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến cầu

2.2.3. Nhóm các nhân tố ảnh hưởng đến nhân tố hấp dẫn hoặc cản trợ

2.3. Các công trình nghiên cứu thực nghiệm

2.3.1. Công trình nghiên cứu trên thế giới

2.3.2. Công trình nghiên cứu của Việt Nam

2.3.3. Tóm lược các nhân tố ảnh hưởng đến KNXK từ các công trình nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Nhân tố ảnh hưởng đến KNXK Thủy sản của Việt Nam tới các quốc gia thành viên TPP

3.1.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến cung/cầu

3.1.2. Các nhân tố hấp dẫn, cản trở

3.2. Lựa chọn mô hình và phương pháp nghiên cứu

3.2.1. Xây dựng mô hình và mô tả các biến

3.2.2. Lựa chọn mô hình để phân tích

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thực trạng xuất khẩu Thủy sản của Việt Nam

4.1.1. Thực trạng xuất khẩu Thủy sản trong quá trình hội nhập của Việt Nam từ năm 2001 đến nay

4.1.2. Thực trạng xuất khẩu Thủy sản sang các nước thành viên TPP giai đoạn 2001 – 2014

4.2. Kết quả từ thống kê mô tả

4.3. Kết quả lựa chọn mô hình

4.3.1. Lựa chọn mô hình

4.3.2. Kiểm tra tính vững của mô hình FEM

4.4. Kết quả nghiên cứu

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

5.1. Giải pháp dựa trên nhân tố GDP

5.2. Giải pháp dựa trên nhân tố dân số

5.3. Giải pháp cho vấn đề về khoảng cách địa lý

5.4. Giải pháp dựa vào khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế

5.5. Ổn định chính sách tỷ giá và kết hợp với các chính sách khác

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về luận văn thạc sĩ ueh về xuất khẩu thủy sản Việt Nam

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Quỳnh Trang nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố tới xuất khẩu thủy sản Việt Nam đến các nước thành viên TPP. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình xuất khẩu thủy sản mà còn phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động này trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

1.1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu xuất khẩu thủy sản

Xuất khẩu thủy sản là một trong những lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản giúp xác định các cơ hội và thách thức trong bối cảnh hội nhập TPP.

1.2. Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu

Mục tiêu của luận văn là phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu bao gồm phân tích định lượng và mô hình trọng lực để đánh giá tác động của các yếu tố như GDP, dân số và khoảng cách địa lý.

II. Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản Việt Nam

Nghiên cứu chỉ ra rằng có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Những nhân tố này bao gồm yếu tố kinh tế, chính sách thương mại và các rào cản kỹ thuật từ các nước thành viên TPP.

2.1. Tác động của GDP và dân số đến xuất khẩu

GDP của nước nhập khẩu có ảnh hưởng lớn đến nhu cầu tiêu thụ thủy sản. Dân số cũng là một yếu tố quan trọng, khi dân số tăng, nhu cầu về thực phẩm, trong đó có thủy sản, cũng tăng theo.

2.2. Khoảng cách địa lý và chi phí vận chuyển

Khoảng cách địa lý giữa Việt Nam và các nước thành viên TPP ảnh hưởng đến chi phí vận chuyển và thời gian giao hàng, từ đó tác động đến khả năng cạnh tranh của thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

III. Thách thức trong xuất khẩu thủy sản Việt Nam đến các nước TPP

Mặc dù có nhiều cơ hội, nhưng xuất khẩu thủy sản Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều thách thức. Các rào cản kỹ thuật và yêu cầu về chất lượng sản phẩm từ các nước TPP là những vấn đề cần được giải quyết.

3.1. Rào cản kỹ thuật và tiêu chuẩn chất lượng

Các nước thành viên TPP thường có tiêu chuẩn chất lượng cao và yêu cầu nghiêm ngặt về vệ sinh an toàn thực phẩm. Điều này đặt ra thách thức lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam.

3.2. Cạnh tranh từ các nước khác

Việt Nam không chỉ cạnh tranh với các nước trong khu vực mà còn với các nước có nền công nghiệp thủy sản phát triển như Thái Lan và Trung Quốc. Sự cạnh tranh này đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải nâng cao chất lượng và giảm giá thành sản phẩm.

IV. Phương pháp nghiên cứu và kết quả chính

Luận văn sử dụng mô hình trọng lực để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản. Kết quả cho thấy rằng các yếu tố như GDP, dân số và khoảng cách địa lý có tác động rõ rệt đến kim ngạch xuất khẩu.

4.1. Mô hình trọng lực trong nghiên cứu

Mô hình trọng lực được sử dụng để phân tích mối quan hệ giữa các nhân tố kinh tế và xuất khẩu thủy sản. Mô hình này giúp xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến xuất khẩu.

4.2. Kết quả phân tích và khuyến nghị

Kết quả phân tích cho thấy rằng cần có các chính sách hỗ trợ để nâng cao năng lực cạnh tranh của thủy sản Việt Nam, đồng thời cải thiện chất lượng sản phẩm để đáp ứng yêu cầu của thị trường TPP.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của xuất khẩu thủy sản

Xuất khẩu thủy sản Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai, đặc biệt là sau khi TPP có hiệu lực. Tuy nhiên, để tận dụng cơ hội này, cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và chiến lược phù hợp.

5.1. Tầm quan trọng của chính sách thương mại

Chính sách thương mại cần được điều chỉnh để hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản, giúp họ vượt qua các rào cản kỹ thuật và nâng cao khả năng cạnh tranh.

5.2. Định hướng phát triển bền vững

Cần có các giải pháp phát triển bền vững cho ngành thủy sản, bao gồm việc bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh ảnh hưởng của các nhân tố tới xuất khẩu thủy sản việt nam đến các nước thành viên tpp

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và Hàm ý chính sách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2.1 Lý Thuyết về thương mại quốc tế Ngoại thương là việc mua bán hàng hóa và dịch vụ qua biên giới quốc gia,một quá trình sản xuất gián tiếp, đóng vai trò là cầu nối giữa cung và cầu hàng hóa và dịch vụ của thị trường trong và ngoài nước. Điều kiện để ngoại thương sinh ra, tồn tại và phát triển là: sự tồn tại và phát triển của kinh tế hàng hóa - tiền tệ kèm theo đó là sự xuất hiện của tư bản thương nghiệp và sự ra đời của Nhà nước và sự phát triển của phân công lao động giữa các nước. Trong thời đại ngày nay, sản xuất đã được quốc tế hóa, không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển kinh tế mà lại không tham gia vào phân công lao động quốc tế và trao đổi hàng hóa với bên ngoài. Đồng thời, ngày nay ngoại thương không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là mua bán với bên ngoài, mà thực chất là cùng với các quan hệ kinh tế đối ngoại khác tham gia vào phân công lao động quốc tế.

Do vậy, cần coi ngoại thương không chỉ là một nhân tố bổ sung cho kinh tế trong nước mà cần coi sự phát triển kinh tế trong nước phải thích nghi với lựa chọn phân công lao động quốc tế. Xuất khẩu sản phẩm là việc bán và cung cấp sản phẩm là hàng hóa và dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một trong hai quốc gia hoặc là ngoại tệ đối với cả hai quốc gia. Mục đích của hoạt động xuất khẩu sản phẩm là khai thác lợi thế so sánh của mỗi quốc gia trong phân công lao động quốc tế.

Có thể nói rằng xuất khẩu là hình thức cơ bản của hoạt động ngoại thương. Hình thức này đã ra đời từ rất lâu và ngày càng phát triển bởi vai trò và những lợi ích thiết thực quan trọng mà nó mang lại. Hình thức đầu tiên của xuất khẩu là buôn bán hàng đổi hàng thật đơn giản. Còn ngày nay các hình thức của xuất khẩu đã phát triển thật phong phú và đa dạng.

Như chúng ta thấy hoạt động diễn ra trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống, trong mọi điều kiện kinh tế, từ việc xuất khẩu những hàng hóa tiêu dùng thiết yếu đến những tư liệu dùng để sản xuất, máy móc thiết bị, công nghệ kĩ thuật cao. Những hoạt động trao đổi này đều nhằm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp nói riêng, nền kinh tế quốc gia nói chung và rộng hơn là nền kinh tế thế giới. Thương mại quốc tế đã ra đời cách đây hàng ngàn năm. Nhưng phải đến thế kỷ 15 thì mới xuất hiện những nỗ lực nhằm giải thích nguồn gốc và những lợi ích từ thương mại quốc tế.

Trong phần này ta sẽ nghiên cứu lần lượt về quan điểm lý thuyết ngoại thương cổ điển cho đến hiện đại.  Chủ nghĩa trọng thương Lý thuyết đầu tiên giải thích về thương mại quốc tế là nghiên cứu của chủ nghĩa trọng thương. Học thuyết này ra đời trước hết ở Anh vào khoảng những năm 1450, phát triển tới giữa thế kỷ thứ XVII và sau đó bị suy đồi. Những người theo phái trọng thương cho rằng sự giàu có của một quốc gia được phản ánh qua lượng vàng, bạc mà quốc gia đó nắm giữ.

Vào thời kỳ đó, vàng và bạc là tiền tệ trong trao đổi thương mại giữa các quốc gia; một quốc gia có thể thu được vàng và bạc nhờ việc xuất khẩu hàng hóa. Ngược lại, nhập khẩu hàng hóa từ các nước khác sẽ khiến cho các kim loại quý này rời khỏi quốc gia đó. Xuất nhập khẩu luôn mang lại sự phồn vinh cho đất nước, tuy nhiên giao thương quốc tế theo luật trò chơi bằng không nghĩa là khi tham gia thương mại quốc tế, một quốc gia thu được lợi ích trên cơ sở lợi ích của một quốc gia khác bị thiệt hại. Do vậy, tư tưởng chủ đạo của chủ nghĩa trọng thương cho rằng cần phải duy trì trạng thái thặng dư thương mại, tức là xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu để mang lại lợi ích tốt nhất cho một nước.

Khi một nước tích lũy được nhiều vàng bạc thì sự giàu có, uy tín, và quyền lực của nước đó cũng sẽ tăng lên. Từ đó, phái trọng thương chủ trương Chính phủ can thiệp sâu vào ngoại thương, tiến hành bảo hộ mậu dịch, khuyến khích xuất khẩu. Lý thuyết trọng thương về thương mại quốc tế mang đậm nhân tố chủ quan, thường mang nặng tính chất kinh nghiệm (chủ yếu thông qua hoạt động thương mại của Anh và Hà Lan), không đi sâu vào nghiên cứu bản chất bên trong của các hiện tượng kinh tế. Một hạn chế rất lớn của chủ nghĩa trọng thương đó là đã quá coi trọng tiền tệ và nhìn nhận thương mại như một trò chơi có tổng bằng không hạn chế này đã LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 được các lý thuyết của Adam Smith và David Ricardo ra đời sau đó chỉ rõ và khẳng định thương mại là một trò chơi có tổng lợi ích là số dương (positive-sum game –tất cả các nước đều thu được lợi ích).

Tuy nhiên, khi so sánh với nguyên lý trong chính sách kinh tế thời kỳ Trung cổ đã có một bước tiến bộ rất lớn, nó thoát ly với truyền thống tự nhiên, từ bỏ việc tìm kiếm công bằng xã hội, những lời giáo huấn lý luận được trích dẫn trong Kinh thánh. Và khi xét theo khía cạnh tiên phong, mở đường cho viêc nghiên cứu phát triển một lĩnh vực mới thì đóng góp của lý thuyết này là không nhỏ.  Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith Đến giữa thế kỷ XVIII, nhà kinh tế học lỗi lạc người Anh, Adam Smith, đã đưa ra quan điểm mới về thương mại quốc tế tích cực hơn so với phái Trọng thương trước đó. Đề cao vai trò của lợi ích cá nhân, trong tác phẩm “Nguồn gốc sự giàu có của các quốc gia” xuất bản năm 1776, Adam Smith đã nhận định: “sự giàu có của mỗi quốc gia đạt được không phải do những quy định quản lý chặt chẽ của chính quyền mang lại mà nhờ vào tự do kinh doanh”.

Dựa vào một số giả định, A.Smith cho rằng hoạt động ngoại thương sẽ mang lại lợi ích cho quốc gia xuất khẩu sản phẩm có lợi thế tuyệt đối.Smith cho rằng khi sử dụng cùng một nguồn lực vậy chất , nước nào sản xuất được nhiều hàng hóa hơn thì nước đó có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất hàng hóa đó. Và các quốc gia nên chuyên môn hóa vào sản xuất các sản phẩm mà mình có lợi thế tuyệt đối rồi đem trao đổi với nước khác (là các quốc gia không có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất sản phẩm đó). Trong trường hợp lợi thế tuyệt đối đổi chiều, cả hai quốc gia tham gia vào hoạt dộng thương mại quốc tế đều thu được lợi ích lớn hơn là khi họ tự sản xuất – cung ứng cho quốc gia mình tất cả các loại hàng hóa. Thương mại quốc tế không phải là quy luật trò chơi bằng không mà là trò chơi tích cực.

Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của A.Smith được xem như là lý thuyết có cơ sở khoa học đầu tiên về thương mại quốc tế, giải thích tại sao các nước lại quan hệ thương mại LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 với nhau, dựa trên cơ sở nào. Tuy nhiên, lý thuyết này lại không trả lời được câu hỏi là nếu một quốc gia có lợi thế tuyệt đối ở hầu hết các sản phẩm, và một quốc gia khác (hay phần còn lại của thế giới) thì lại không có lợi thế tuyệt đối ở bất kỳ sản phẩm nào thì mậu dịch quốc tế có xảy ra không, nếu có thì dựa trên cơ sở nào?  Lý thuyết David Ricardo Nội dung học thuyết kinh tế của David Ricardo được thể hiện trong tác phẩm kinh tế chủ yếu của ông, tác phẩm: “Những nguyên lý của khoa kinh tế chính trị và thuế khóa” được xuất bản lần đầu năm 1817. Mô hình tăng trưởng kinh tế của David Ricardo thuộc về mô hình cổ điển vì nó lấy tích lũy tư bản làm trung tâm cho mọi quá trình tăng trưởng kinh tế. Một cách tổng quát, Ricardo thừa nhận có bốn nhân tố căn bản quyết định đến mức tăng trưởng kinh tế của một quốc gia, đó là: đất đai (tài nguyên), lao động, tư bản và máy móc (công nghệ).

David Ricardo đã đưa lý thuyết của Adam Smith tiến xa thêm một bước nữa bằng cách khám phá ra xem điều gì sẽ xảy ra khi một quốc gia có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất tất cả các mặt hàng. Lý thuyết của Smith về lợi thế tuyệt đối gợi ý rằng một nước như vậy sẽ không thu được lợi ích gì từ thương mại quốc tế. Trong cuốn sách của mình, Ricardo đã chứng minh rằng trường hợp đó sẽ không diễn ra. Ông cho rằng bất kỳ một nước nào tham gia hoạt động thương mại quốc tế đều thu được lợi ích nhất định cho họ do lợi thế tương đối chứ không nhất thiết phải có lợi thế tuyệt đối.

Thuyêt lợi thế so sánh xác định nước chuyên môn hóa vào sản xuất những hàng hóa mà nước đó sản xuất một cách hiệu quả hơn và mua về những hàng hóa mà nước đó sản xuất kém hiệu quả hơn so với các nước khác, ngay cả khi điều đó có nghĩa là mua hàng hóa từ những nước khác mà mình có thể tự sản xuất hiệu quả hơn. Như vậy, các nước tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế đều thu được lới ích cao hơn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Lợi thế so sánh về một sản phẩm thể hiện khả năng cạnh tranh của một quốc gia trên thị trường thế giới đối với sản phẩm đó. Mức lợi thế so sánh giữa hai quốc gia hay nhiều nước trong khu vực có thể được xác định theo công thức: RCA = (E1/Ec) / (E2/Ew) Trong đó:  RCA: Hệ số thể hiện lợi thế so sánh.

 E1: KNXK sản phẩm X của quốc gia trong một năm.  Ec: Tổng KNXK của quốc gia trong một năm.  E2: KNXK sản phẩm X của thế giới trong một năm.  Ew: Tổng KNXK thế giới trong một năm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ