CHƯƠNG 1 NGHĨA VỤ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG 1. Về đối tượng phải đánh giá tác động môi trường Tiêu chí để xác định đối tượng phải đánh giá tác động môi trường theo Điều 18 của Luật BVMT năm 20143 và Phụ lục II của Nghị định 18/2015/NĐ-CP4 không dựa vào tiêu chí môi trường hay cụ thể hơn là tính chất và mức độ tác động đến môi trường của dự án mà chủ yếu căn cứ vào thẩm quyền quyết định đầu tư và quy mô của dự án. Thực tiễn cho thấy, không phải tất cả các dự án do Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư đều có phạm vi và mức độ tác động đến môi trường đến mức cần phải đánh giá tác động môi trường như dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước…. Hoặc đối với các dự án còn lại thuộc đối tượng phải đánh giá tác động môi trường không chỉ phụ thuộc vào quy mô sử dụng đất, quy mô vốn đầu tư mà còn phụ thuộc vào công nghệ, vào vị trí của dự án.
Hạn chế này đã dẫn đến đối tượng phải đánh giá tác động môi trường quá nhiều, không xuất phát từ lí do môi trường, trong khi mục đích của đánh giá tác động môi trường là lường trước các tác động đến môi trường của đối tượng phải đánh giá tác động môi trường và đưa ra giải pháp bảo vệ môi trường5. 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (Luật số 55/2014/QH13 ngày 23/6/2014), đã hết hiệu lực 4 Chính phủ (2015), Nghị định số 18/2015/NĐ-CP quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường, ban hành ngày 14/02/2015, đã hết hiêu lực. 9 Luật BVMT năm 20206 đã có nhiều quy định mới so với Luật BVMT năm 2014 về đối tượng phải đánh giá tác động môi trường, quy định tiêu chí về môi trường. Đây là điểm mới căn cứ của Luật về ĐTM, điều này nhằm quản lý tốt hơn các dự án đầu tư nằm trong khu vực có yếu tố nhạy cảm về môi trường và là yếu tố quan trọng để xác định dự án phải thực hiện các thủ tục môi trường gì.
Khoản 1 Điều 18 Luật BVMT năm 2020 quy định các tiêu chí về môi trường để phân loại dự án đầu tư gồm: Quy mô, công suất, loại hình sản xuất; Diện tích sử dụng đất, quy mô khai thác, sử dụng tài nguyên nước, khoáng sản, giao khu vực biển; Yếu tố nhạy cảm về môi trường. Trên cơ sở này Nghị định 08/2022/NĐ-CP 7 quy định cụ thể hơn, cụ thể: - Quy mô của dự án (quy định tại khoản 1 Điều 25 Nghị định 08/2022/NĐ- CP) (1) Quy mô được phân loại theo tiêu chí quy định của pháp luật về đầu tư công, gồm dự án quan trọng quốc gia, nhóm A, nhóm B và nhóm C; (2) Quy mô diện tích sử dụng đất, đất có mặt nước của dự án phân thành 03 loại: lớn, trung bình và nhỏ (>100 ha; 50-100 ha; <50 ha); (3) Quy mô sử dụng khu vực biển được phân thành 02 nhóm theo thẩm quyền và cấp giấy phép nhận chìm ở biển, giao khu vực biển và giao khu vực biển để lấn biển; (4) Quy mô khai thác tài nguyên thiên nhiên được phân thành 02 nhóm theo thẩm quyền cấp giấy phép khai thác khoáng sản, khai thác và sử dụng tài nguyên nước; xả nước thải vào nguồn nước. - Quy mô cần căn cứ phân loại dự án theo tiêu chí pháp luật đầu tư công, tài nguyên biển, khoáng sản, tài nguyên nước: Phân loại dự án đầu tư công được quy định tại Phụ lục I Nghị định số 40/2020/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư 6 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 (Luật số 72/2020/QH14 ngày 17/11/2020), có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2022. 7 Chính phủ (2022), Nghị định số 08/2022/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, ban hành ngày 10/01/2022.
10 công ngày 06/4/2020 của Chính phủ (cần rà soát theo quy định để xác định); Luật tài nguyên biển: Nhận chìm ngoài 6 hải lý thẩm quyền của Bộ Tài nguyên & Môi trường; Luật khoáng sản, tài nguyên nước: khoáng sản kim loại, nước cho thủy điện từ 2MW trở lên thuộc thầm quyền của Bộ Tài nguyên & Môi trường… - Công suất của dự án có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường được chia thành 03 loại: lớn, trung bình, nhỏ quy định tại Phụ lục II Nghị định 08/2022/NĐ-CP. Như vậy, các dự án không thuộc loại hình nguy cơ gây ô nhiễm môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường không phân theo công suất lớn, trung bình, nhỏ. Nhiệt điện than: từ 600 MW trở lên là lớn; dưới 600 MW là trung bình, không có loại nhỏ. - Loại hình dự án (khoản 3 Điều 25 Nghị định 08/2022/NĐ-CP) quy định: Loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường quy định tại Phụ lục II Nghị định 08/2022/NĐ-CP; Loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khác.
Diện tích sử dụng đất, đất có mặt nước, khu vực biển; diện tích sử dụng đất, đất có mặt nước:>=100 ha: lớn; 50-100 ha: trung bình; <= 50 ha: nhỏ. Yếu tố nhạy cảm về môi trường theo khoản 4 Điều 25 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP. Luật BVMT năm 2020 đã căn cứ tiêu chí về môi trường, dự án được chia thành 04 nhóm: I, II, III, IV; chi tiết nhóm I, II, III, IV được quy định cụ thể tại Phụ lục III, IV, V Nghị định số 08/2022/NĐ-CP. Việc xác định được dự án đầu tư thuộc nhóm nào (I, II, III, IV) là hết sức quan trọng, vì căn cứ theo nhóm để xác định đối tượng và thẩm quyền thẩm định hồ sơ môi trường.
Luật đã xác lập rõ đối tượng phải thực hiện ĐTM và GPMT trên cơ sở tiêu chí về tác động đến môi trường của dự án đầu tư được xét theo quy mô, tính chất, mức độ tác động đến môi trường mà yêu cầu các thủ tục môi trường theo 4 nhóm dự án đầu tư khác nhau. Cụ thể, dự án nhóm I: cần thực hiện ĐTM sơ bộ, ĐTM cấp Bộ, GPMT (nếu có). Dự án nhóm II: phải làm ĐTM (trừ các dự án thuộc mục I Phụ lục IV), GPMT (nếu có). Dự án nhóm III: Chỉ phải làm giấy phép môi trường (nếu có).
Dự án nhóm III: Không phải thực hiện thủ tục môi trường. Việc quy định những dự án ít có tác động tới môi 11 trường (nhóm III, nhóm IV) không phải thực hiện ĐTM sẽ làm giảm chi phí cho việc thẩm định báo cáo ĐTM, tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án có thể sớm triển khai thực hiện. Trong quá trình tổ chức thực hiện, cần lưu ý tiêu chí môi trường, phân loại dự án đầu tư: (1) Có thuộc loại hình sản xuất kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường không? Nếu thuộc nhóm cần lưu ý tiếp: thuộc nhóm công suất nào; có nằm trong nội thành, nội thi không? Có những yếu tố nhạy cảm về môi trường nào khác không? (2) Nếu không thuộc loại hình có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường thì cần xem xét: Quy mô sử dụng đất, đất có mặt nước; dự án thuộc nhóm nào theo tiêu chí của pháp luật về đầu tư công; thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư; thẩm quyền khai thác khoáng sản, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, giao khu vực biển; có những yếu tố nhạy cảm về môi trường nào. Qua thực tiễn áp dụng tại Bến Tre cho thấy một cơ sở chăn nuôi gia súc có số đầu gia súc 100 con nếu đặt trong khu dân cư sẽ gây những tác động rất nghiêm trọng đến môi trường nhưng theo Phụ lục II của Nghị định 18/2015 lại không thuộc đối tượng phải ĐTM.
Theo quy định Luật BVMT năm 2020 thì cơ sở chăn nuôi gia súc trên thuộc đối tượng phải ĐTM có phát sinh chất thải. Nghĩa vụ lập báo cáo đánh giá tác động môi trường Chủ các dự án có trách nhiệm lập báo cáo ĐTM trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Báo cáo ĐTM phải được lập đồng thời với báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án. Các dự án nêu trên chỉ được phê duyệt, cấp phép đầu tư, xây dựng, khai thác sau khi báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt.
Chính vì thế, việc báo cáo ĐTM là nghĩa vụ bắt buộc của chủ thể dự án đầu tư nói trên. Để thực hiện ĐTM, tại khoản 1 Điều 31 của Luật BVMT năm 2020 quy định: “Đánh giá tác động môi trường do chủ dự án đầu tư tự thực hiện hoặc thông qua đơn vị tư vấn có đủ điều kiện thực hiện. Đánh giá tác động môi trường được thực hiện đồng thời với quá trình lập báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc tài liệu 12 tương đương với báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án”. So với khoản 2 Điều 12 Nghị định số 18/2015/NĐ-CP quy định: “Chủ dự án có trách nhiệm tự thực hiện hoặc thuê tổ chức tư vấn thực hiện đánh giá tác động môi trường theo quy định tại Điều 19 Luật BVMT năm 2014 chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả thực hiện ĐTM và các thông số, số liệu được sử dụng trong báo cáo đánh giá tác động môi trường”, quy định hoàn toàn hợp lý, có tính khả thi.
Bởi thực hiện ĐTM đòi hỏi tổ chức thực hiện ĐTM phải đáp ứng những điều kiện nhất định như người thực hiện phải có trình độ chuyên môn về môi trường lẫn kiến thức về pháp luật, có trang thiết bị cần thiết để đánh giá, đo lường, kiểm nghiệm. Vì vậy, rất nhiều trường hợp chủ đầu tư không đủ điều kiện để tự thực hiện ĐTM mà phải nhờ tổ chức tư vấn thực hiện. Về trách nhiệm của tổ chức tư vấn, Luật BVMT năm 2014 không quy định nhằm ràng buộc trách nhiệm tư vấn nhưng khoản 3 Điều 12 Nghị định số 18/2015/NĐ-CP đã quy định “tổ chức tư vấn thực hiện ĐTM chịu trách nhiệm…”; quy định này còn chung chung, không khả thi; quy định “chịu trách nhiệm trước pháp luật” không rõ ràng, cụ thể là trách nhiệm gì, chịu trách nhiệm trong trường hợp nào? Vấn đề trách nhiệm giữa tổ chức tư vấn và chủ dự án không cần thiết phải quy định bởi bản chất là quan hệ hợp đồng dịch vụ. Luật BVMT năm 2020 quy định “…Đánh giá tác động môi trường do chủ dự án đầu tư tự thực hiện hoặc thông qua đơn vị tư vấn có đủ điều kiện thực hiện”.