Chương 1: Giới thiệu van dé cần nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu TNXH tại Công ty Điện lực Hải Dương Chương 5: Giải pháp nâng cao TNXH và kết luận Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI DOANH NGHIỆP 2. Vài nét về đạo đức kinh doanh Dé dé cập đến mối quan hệ con người và các quy tắc ứng xử trong mối quan hệ giữa con người với con người trong các hoạt động sống, người ta sử dụng phạm trù đạo đức. Đạo đức là phạm trù rộng, nghiên cứu về bản chất và nền tang của đạo lý trong mỗi quan hệ con người, trong đó đạo lý được hiểu là sự công bằng, chuẩn mực và quy tắc ứng xử. Theo Từ điển Điện tử American Heritage Dictionary “Đạo đức là một bộ môn khoa học nghiên cứu về bản chất tự nhiên của cái đúng - cái sai, triết lý về cái đúng - cái sai, quy tắc hay chuẩn mực chỉ phối hành vi của các thành viên của một nghề nghiệp”.
Trong kinh doanh, khi các phạm vi, tính chất các mối quan hệ trở nên phức tạp, đa dạng, đạo đức càng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng, gìn giữ và phát triển các mối quan hệ đó. Trong cuộc sống gia đình va xã hội, hành vi con người bị chi phối bởi những quy tắc đạo đức xã hội phổ biến, truyền thống. Trong khi đó, cuộc sống nghề nghiệp có những quy luật riêng, đặc trưng riêng; trong đó con người có những mối quan hệ rộng hơn, phức tạp hơn và khác han so với mối quan hệ xã hội thuần túy. Các quy tắc đạo đức xã hội phô biến trở nên không còn đủ hiệu lực đối với cuộc sống nghề nghiệp; nó cần thêm những quy tắc ứng xử mới phù hợp đề hướng dẫn hành vi con người trong mối quan hệ mới.
Đạo đức kinh doanh chỉ bắt đầu được nghiên cứu nghiêm túc và phát triển thành một môn khoa học, cả về ly luận va thực hành, vào nửa sau thế ki XX ở các nước công nghiệp phát triển phương Tây, khi các nhà quản lý phải đối đầu với các vấn đề nảy sinh từ việc quản lý các công ty không lồ hoạt động trên phạm vi toàn câu và khi họ chứng kiên sự lớn mạnh của các công ty thuộc nền kinh tế Á Đông truyền thống. Cụ thể vào năm 1974 khái niệm Đạo đức kinh doanh chính thức được ông Norman Bowie - Giao su về Quản trị chiến lược và của Triết học đưa ra thành một chủ đề: “Vuong quoc kết thúc ” thảo luận tại một cuộc Hội nghị Khoa học. Trong thập niên 1980, 1990 vấn đề này đã trở thành đề tài của những cuộc tranh luận sôi nôi trong các hội nghị, hội thảo, trong các trường học, giữa các doanh nghiệp, các cô đông, người lao động. ban đầu là ở Mỹ, sau đó lan rộng sang các nước khác.
Theo tác giả cuốn “Đạo đức kinh doanh” - Verner Henderson: “Đạo đức kinh doanh là tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực kiểm soát hành vì kinh doanh của một cá nhân, một nhóm người hay một nhóm nghệ nghiệp nhất định nằm mục đích đem lại phúc lợi cho xã hội ”. Lewis, Mỹ đã tổng quát: “Đạo đức kinh doanh là tắt cả những quy tắc, tiêu chuẩn, chuẩn mực đạo đức hoặc luật lệ để cung cap chi dan vé hanh vi ung xử chuẩn mực và sự trung thực của một tổ chức trong những trường hợp nhất định”. Do đó, chúng ta có thé thay, đạo đức kinh doanh gồm những nguyên tắc và chuẩn mực có tác dụng hướng dẫn hành vi trong mối quan hệ kinh doanh; chúng được những người hữu quan (người đầu tư, khách hàng, người quản lý, người lao động, đại điện cơ quan pháp lý, cộng đồng cu dân, đối tác,.) sử dụng dé phán xét của một hành động cụ thê là đúng hay sai, hợp đạo đức hay phi đạo đức. Cho dù các đối tượng hữu quan không phải lúc nào cũng đúng, những phán xét của họ luôn tác động đến sự chấp thuận của xã hội đối với doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, đạo đức khác nhau ở từng người, từng nhóm người, từng xã hội, từng nền văn hóa, do vậy đạo đức tùy thuộc vào hoàn cảnh. Nội hàm đạo đức kinh doanh là căn cứ dé xem xét đánh giá các hành vi đạo đức của doanh nghiệp và các nhà kinh doanh. Tuy nhiên, đạo đức khác nhau ở từng người, từng nhóm người, từng xã hội, từng nền văn hóa, do đó đạo đức tùy thuộc vào hoàn cảnh 2. Khái niệm trách nhiệm xã hội Trách nhiệm xã hội đối với doanh nghiệp là một khía cạnh quan trọng của Đạo đức kinh doanh.
Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ra đời sau đạo đức kinh doanh và đang nhận được sự quan tâm lớn từ các doanh nghiệp. Vậy, Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là gì? Cách đây hơn 50 năm, khái niệm TNXH của DN lần đầu được nói đến trong chuyên dé của Bowen, kêu gọi người quản ly tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoan những thiệt hại do các doanh nghiệp làm tôn hại cho xã hội. Từ đó đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về TNXH của DN. TNXH của DN được nhìn nhận dưới nhiều góc độ, nhiều quan điểm riêng, phụ thuộc vào điều kiện và đặc điểm, trình độ phát triển của mỗi tổ chức, công ty, chính phủ.
Keith Davis (1973) đưa ra một khái niệm khá rộng “TNXH của DN là sự quan tâm, phản ứng của doanh nghiệp với các van đề vượt ra ngoài việc thoả mãn những yêu cầu pháp lý, kinh tế, công nghệ”. Carroll (1999) cho rằng THXH của DN có phạm vi rộng hơn “TNXH của DN là tat cả các van đề về kinh tế, pháp lý, dao đức, và những lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi ở DN trong mỗi thời điểm nhất định”. Còn theo Matten & Moon (2004), “TNXH của DN là khái niệm chùm bao gồm nhiều khái niệm khác nhau như đạo đức kinh doanh, doanh nghiệp làm từ thiện, công dân doanh nghiệp, tính bền vững và trách nhiệm môi trường”. Theo nhóm phát triển kinh tế tư nhân của Ngân hàng thế giới (2004), “TNXH của DN là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời 10 sống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hột”.
Vậy phải hiểu chính xác TNXH của DN là gì? Theo quan điểm của tôi, khái niệm TNXH của DN là trách nhiệm động và luôn thay đổi trong từng bối cảnh kinh tế, chính sách, xã hội đặc thù. Bản chất TNXH của DN là quan điểm về vai trò của DN trong mối liên hệ với các bên liên quan hay cụ thé hơn đó là các cam kết của DN đóng góp vào sự phát triển bền vững, cải thiện chất lượng cuộc sống của người lao động và gia đình họ, cũng như của cộng đồng và xã hội, doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế cần cân bằng lợi ích kinh tế - lợi ích xã hội. Như vậy, trong các định nghĩa khác nhau, định nghĩa của nhóm phát triển kinh tế tư nhân của Ngân hàng thé giới là toàn diện nhất. Khi cạnh tranh ngày càng khốc liệt, đòi hỏi yêu cầu từ khách hàng ngày càng cao và xã hội có cái nhìn ngày càng khat khe đối với doanh nghiệp thì các doanh nghiệp muốn phát triển bền vững phải luôn tuân thủ những chuẩn mực về bảo vệ môi trường thiên nhiên, môi trường lao động, bình đăng về giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, đào tạo và phát triển nhân viên, góp phan phát trién cộng đồng.
Nội dung của TNXH của doanh nghiệp 2. Phạm vi ảnh hưởng của Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp là một lĩnh vực rộng lớn liên quan đến mọi đối tượng, liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp. Bởi vậy, phạm vi ảnh hưởng cua Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp không chi bó hẹp trong nội bộ doanh nghiệp mà nó còn có sức lan tỏa lớn tới nhiều thành phần khác nhau trong xã hội.
Vì vậy, về cơ bản người ta chia phạm vi ảnh hưởng của CSR với 3 khía cạnh sau: II Pham vi nội bộ doanh nghiệp: CSR ảnh hưởng đến quan hệ trong và ngoài hợp đồng lao động và thỏa mãn giữa hai bên; quyên lợi hợp pháp và nghĩa vụ của người lao động như công việc làm, phúc lợi lao động, quy tắc làm việc, an toàn lao động,.; xây dựng môi trường ứng xử có đạo đức trong doanh nghiệp. Pham vi hoạt động kinh doanh: CSR giải quyết các van đề trong giới hạn các mối quan hệ của doanh nghiệp với các đối tác, đối tượng liên quan trực tiếp tới hoạt động kinh doanh. Pham vi xã hội: CSR được đặt ra giải quyết mối quan hệ với tập quán, văn hóa truyền thống, tôn giáo của từng quốc gia, cộng đồng dân tộc. CSR xem xét các van đề về quyền bình đăng, quyền lợi trong đời sống xã hội, van đề đảm bảo chữ tín trong kinh doanh.
Nội dung của TNXH. TNXH có thể được hiểu như một gánh vác tự giác các trách nhiệm khác, ngoài những trách nhiệm về kinh tế và pháp ly. Cụ thé hon, là các trách nhiệm được thê hiện ở sự lựa chọn các mục tiêu của doanh nghiệp và đánh giá kết quả thực hiện, không chỉ đơn thuần dựa vào các tiêu chí lợi nhuận và phúc lợi cua đơn vi ma còn dựa vào những tiêu chi về đạo đức hay tính chính xác đáng so với mong muốn của xã hội. TNXH không chỉ đơn thuần là các hành động nhân đạo, từ thiện đối với cộng đồng mà yếu tố cấu thành nên TNXH rộng hơn rat nhiều, đó là sự tông hợp, kết hợp, bổ sung của nhiều yếu tổ liên quan khác, mà thiếu một trong các yêu tô này thì không thé coi là một doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội.
Theo như mô hình yếu tố cấu thành TNXH dưới đây thì mô hình TNXH là một “cái tháp” với các nghĩa vụ năm ở các tang khác nhau và thứ tự ưu tiên thực hiện sẽ lần lượt từ đáy tháp lên đỉnh tháp. Việc thực hiện TNXH phải bắt nguồn từ các nghĩa vụ kinh tế, bởi đây là mục tiêu, bản chat là lý do tồn tại của doanh nghiệp và cũng là cơ sở dé thực 12 hiện các nghĩa vụ tiếp sau của TNXH.