Chương 1. Giới thiệu chung Chương 2. Tổng quan về Năng lượng xanh – Năng lượng tái tạo tại Việt Nam Chương 3. Thực trạng phát triển thị trường năng lượng điện tại Việt Nam.
Phương hướng và giải pháp phát triển thị trường năng lượng điện tại Việt Nam. Kết luận và kiến nghị. Tài liệu tham khảo Phụ lục 4 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. NGUYỄN NHẬT NAM CHƯƠNG II.
TỔNG QUAN VỀ NĂNG LƯỢNG XANH – NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO TẠI VIỆT NAM 2. KHÁI QUÁT VỀ NĂNG LƯỢNG XANH – NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO Năng lượng xanh là năng lượng được tạo ra từ các nguồn tự nhiên như ánh sáng mặt trời, thủy triều, gió, mưa, thực vật, tảo và địa nhiệt. Các nguồn năng lượng này có thể tự tái tạo, chúng được bổ sung một cách tự nhiên. Ngược lại, nhiên liệu hóa thạch là một nguồn nhiên liệu hữu hạn cần hàng triệu năm để phát triển và đương nhiên sẽ giảm khi sử dụng.
[1] Các nguồn năng lượng xanh cũng có ít tác động đến môi trường hơn so với nhiên liệu không thể tái tạo. Vì nhiên liệu hóa thạch gây ra các khí thải làm ô nhiễm môi trường và góp phần gây ra biến đổi khí hậu. Tiếp cận với nhiên liệu không thể tái tạo thường phải khai thác hoặc khoan sâu vào lòng đất, đó là ở những nơi nhạy cảm về mặt sinh thái. Trong khi năng lượng xanh sử dụng các nguồn năng lượng sẵn có ngoài tự nhiên, kể cả ở các vùng nông thôn và vùng xa xôi, hẻo lánh, nơi hệ thống điện không thể tiếp cận được.
Sự tiến bộ trong công nghệ năng lượng xanh đã giúp giảm chi phí sản xuất tuabin gió, tấm pin mặt trời và các nguồn năng lượng xanh khác, đặt việc phát điện vào tay người dân chứ không phải phụ thuộc vào các công ty dầu khí, than và điện. [1] Năng lượng tái tạo có thể thay thế cho nhiên liệu hóa thạch trong tất cả các lĩnh vực bao gồm điện, nước, nhiên liệu cho xe có động cơ và sưởi ấm không gian. Các loại năng lượng xanh phổ biến hiện nay Năng lượng mặt trời Là loại năng lượng xanh phổ biến nhất, năng lượng mặt trời thường được sản xuất bằng cách sử dụng các tế bào quang điện để thu nhận ánh sáng mặt trời và chuyển hóa nó thành điện năng Năng lượng mặt trời cũng được sử dụng để làm nóng nước, sưởi ấm các tòa nhà, nấu chín thức ăn và cung cấp ánh sáng tự nhiên. Công nghệ năng lượng mặt trời đã trở nên đủ rẻ để người dân sử dụng, từ cung cấp năng lượng cho thiết bị cầm tay nhỏ gọn đến toàn bộ khu vực lân cận Năng lượng gió Dòng không khí chuyển động trên bề mặt Trái đất có thể được dùng để đẩy tua bin, những cơn gió càng mạnh sẽ tạo ra nhiều năng lượng hơn.
Các vị trí hay khu vực ở trên cao, ngoài biển, có xu hướng thu được nhiều gió và sức gió mạnh nhất. Năng lượng nước Còn được gọi là thủy năng, được tạo ra từ các chu trình nước của Trái đất, bao gồm bốc hơi, nước mưa, thủy triều và lực nước chảy qua đập. Thủy điện phụ thuộc vào lượng mưa để tạo ra một lượng năng lượng đáng kể. Năng lượng địa nhiệt 5 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS.
NGUYỄN NHẬT NAM Ngay bên dưới lớp vỏ trái đất có một nhiệt lượng lớn, có nguồn gốc từ sự hình thành ban đầu của trái đất và sự phân rã của các chất phóng xạ. Năng lượng địa nhiệt như các suối nước nóng đã được con người sử dụng từ hàng ngàn năm nay để tắm, và bây giờ nó còn được sử dụng để tạo ra điện. Sinh khối Các vật liệu tự nhiên hiện có như mùn cưa, chất thải gỗ và chất thải nông nghiệp dễ cháy có thể được biến đổi thành năng lượng với lượng phát thải khí thấp hơn nhiều so với nhiên liệu nguồn gốc từ dầu mỏ. Đó là vì những nguyên liệu được gọi là sinh khối này chứa năng lượng được lưu trữ từ mặt trời.
Nhiên liệu sinh học Thay vì đốt sinh khối để lấy năng lượng, đôi khi những nguyên liệu hữu cơ tái tạo này được chuyển đổi thành nhiên liệu. Một số ví dụ tiêu biểu cho điều này bao gồm ethanol và diesel sinh học. Nhiên liệu sinh học này cung cấp 2,7% nguồn nhiên liệu của thế giới tính riêng cho giao thông đường bộ vào năm 2010 và có khả năng đáp ứng được hơn 25% nhu cầu nhiên liệu cho giao thông của thế giới vào năm 2050. THỰC TRẠNG KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG CÁC NGUỒN NĂNG LƯỢNG TẠI VIỆT NAM Ngành năng lượng Việt Nam sau hơn nửa thế kỷ hình thành, phát triển và đặc biệt sau hơn 30 năm đổi mới, cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội, ngành năng lượng Việt Nam đã có những bước tiến khá, rất đáng ghi nhận.
Giai đoạn 2001-2010 GDP tăng bình quân 7,26%/năm, 2011-2015 là 5,88%. Năm 2010, GDP đầu người gần 1334 USD/người, năm 2015 là 1685 USD/người. Việt Nam bước qua ngưỡng nước nghèo đạt mức trung bình thấp. Giai đoạn 2011-2015, sản xuất năng lượng tăng khoảng 7%/năm; năm 2015 sản xuất than nguyên khai đạt 37,6 triệu tấn; dầu thô 17,6 triệu tấn; khí đốt 9,8 tỷ m3; tổng công suất điện khoản 39.000MW, sản xuất điện năng đạt 159,4 tỷ kWh; điện tiêu thụ đầu người khoảng 1530kWh/người.
Cơ sở hạ tầng của ngành năng lượng phát triển nhanh. Nội dung sử dụng hiệu quả và tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường đang từng bước được quản lý thống nhất và có hiệu quả. Hoạt động năng lượng đang được định hướng dần theo cơ chế thị trường. Ngành năng lượng càng lớn mạnh, hệ thống năng lượng càng phức tạp, đa dạng, quá trình phát triển đang đòi hỏi tính cân đối, thống nhất, hiện đại hóa và hiệu quả cao hơn.[17] [18] [19] Công nghệ sản xuất, truyền tải điện Quy hoạch điện VII điều chỉnh (QHĐVII ĐC), Chính phủ đã phê duyệt 3- 2016 [1], tổng điện năng sản xuất so với QHĐVII, được điều chỉnh giảm khoảng 20%, cụ thể năm 2015: 159 tỷ; 2020: 265 tỷ; 2025: 400 tỷ; 2030: 572 tỷ kWh.
Trong đó nhiệt điện than vẫn có tỷ trọng lớn, trên 53% tổng sản xuất điện, thủy điện giảm còn hơn 12%, điện từ khí đốt ở mức gần 17%, điện tái tạo tăng 6,5- 6,9% giai đoạn 2020-25 lên 10,7% vào 2030. So với QHĐVII, tỷ trọng điện 6 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS. NGUYỄN NHẬT NAM năng từ NLTT được điều chỉnh tăng 1,8 lần, nhưng lượng tuyệt đối không tăng nhiều (chỉ 1,3 lần), vì tổng điện năng sản xuất giảm 20%. Với những chỉ tiêu này chỉ mới đạt 60-70% mục tiêu của Chiến lược phát triển NLTT[4].
Điện sản xuất đầu người năm 2015 là 1800kWh/người; dự báo năm 2020: 2800; 2025: 4100; 2030: 5200 kWh/người. QHĐVII điều chỉnh với cơ cấu công suất, sản lượng theo loại nguồn năng lượng đến năm 2030 được trình bày trong bảng sau [17] [18] [19]. Cơ cấu công suất, sản lượng điện theo loại nguồn đến 2030 [ %] Công nghệ sản xuất điện, Việt Nam hiện đã sử dụng các tổ máy nhiệt điện công suất khá lớn 300-600MW, thông số hơi cận tới hạn; các thủy điện công suất lớn, khá tiên tiến. Tuy nhiên, hiệu suất sản xuất điện chỉ ở mức trung bình khá.
Cũng cần nói thêm rằng, trong công nghệ sản xuất điện, gần đây các nước phát triển đã đưa vào sử dụng công nghệ có thông số hơi tới hạn và siêu tới hạn, hiệu suất sản xuất điện tăng 8-10%, giảm phát thải khí nhà kính trên 10% so với công nghệ cao áp và cận tới hạn. Mặc khác, đã ứng dụng công nghệ số, điều khiển quá trình sản xuất, hiệu quả cũng tăng 3-4%. Tuy vậy, những công nghệ này chưa thể thay đổi bản chất quá trình chuyển đổi năng lượng. Chúng ta đang chờ đợi công nghệ biến đổi trực tiếp nhiệt, hóa năng thành điện năng, hiệu suất quá trình có thể trên 80%, được 7 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD: TS.
NGUYỄN NHẬT NAM thương mại hóa (như máy phát từ thủy động, pin nhiên liệu,. Dự đoán, đây mới là CMCN 4.0 trong sản xuất điện năng! Về lưới điện, Việt Nam đã hình thành hệ thống thống nhất trong cả nước, tính đến 2015, đường dây 500kV khoảng 5300 km; đường 110-220kV khoảng 32000km; hệ thống trung, hạ áp khoảng 120.000km; và hàng nghìn trạm biến áp tương ứng. Thiết bị cao áp, hệ điều khiển nhập ngoại khá hiện đại; lưới trung hạ thế còn khá bất cập, lạc hậu tổn thất cao, kém an toàn. [17] [18] [19] Công nghệ khai thác, chế biến than Theo Quy hoạch ngành than điều chỉnh 2015 [2] cho thấy, tổng tài nguyên - trữ lượng than của nước ta, tính đến 31-12-2015 là 48,8 tỷ tấn, trong đó than đá 48,4 tỷ, than bùn 0,34 tỷ tấn.
Tài nguyên và trữ lượng huy động vào quy hoạch là 3,05 tỷ tấn, trong đó than bùn 0,06 tỷ tấn. Nguồn than đồng bằng Sông Hồng, tuy được đánh giá có tiềm năng lớn, nhưng chưa thể đưa vào quy hoạch. Sản lượng khai thác than có thể đạt: Năm 2015: 55 triệu tấn; năm 2020: 60 triệu tấn; 2030: 70 triệu tấn. Việt Nam đã xây dựng khá đồng bộ các khâu từ thăm dò, khai thác, chế biến và dịch vụ về than.
Đến nay khai khác than chủ yếu là công nghệ hầm lò (khoảng 70-80%). Ngành than đang thực hiện hàng chục dự án nâng cấp công nghệ, mở rộng các mỏ: Cẩm Phả, Hòn Gai, Uông Bí, Na Dương,… Tuy nhiên, hiện nay các thiết bị khai thác phần lớn ở trình độ thấp, chậm được đổi mới, tỷ lệ than khai thác bằng công nghệ cơ giới hóa còn thấp; công việc phá vỡ than, đất đá hiện chủ yếu bằng khoan nổ mìn, khoan điện cầm tay, năng suất thấp, giá thành khai thác cao. Bể than Đồng bằng Sông Hồng đang cần thăm dò bổ sung, lựa chọn khu vực chứa than triển vọng, có điều kiện địa chất - mỏ thích hợp, đồng thời lựa chọn công nghệ khai thác phù hợp, hiệu quả, đảm bảo an toàn môi trường, làm cơ sở cho kế hoạch khai thác các giai đoạn tới. Vấn đề nhập than chủ yếu cho sản xuất điện mấy năm qua được đề cập khá nhiều, tuy nhiên chưa có giải pháp nào chắc chắn, bền vững.
Nhưng trên thực tế nhập than đã sớm hơn dự kiến. Công nghệ trong sản xuất, chế biến than ở Việt Nam được đánh giá chỉ ở mức trung bình, nếu không nói còn lạc hậu. Dự báo khả năng khai thác dầu - khí giai đoạn tới 2030, kể cả đầu tư ra nước ngoài như sau: Dầu thô: 2015: 20,0; 2020: 20,7; 2025: 21,7; 2030: 22,0 triệu tấn. Trong đó khai thác nội địa chiếm khoảng 80%.
Khí đốt: 2015: 11; 2020: 17; 2025: 17; 2030: 17 tỷ m3.