ĐẶT VẤN ĐỀ Hệ thống điện đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia vì nó là một trong những cơ sở hạ tầng quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân. Do sự phát triển kinh tế và các vấn đề về tài nguyên môi trường cũng như sự tăng nhanh về nhu cầu sử dụng điện, phát triển nguồn điện nhưng hệ thống điện không thể đáp ứng kịp. Vì các lý do trên nền hệ thống điện buộc phải hoạt động gần với ranh giới ổn định điện áp. Do các sự cố về mất ổn định điện áp xảy ra ngày càng thường xuyên và mức độ nguy hiểm ngày càng lớn nên việc nghiên cứu quản lý hệ thống lưới điện đang được quan tâm đặc biệt.
Khi hệ thống điện mất ổn định sẽ kéo theo những sự cố nghiêm trọng mang tính hệ thống, gây thiệt hại nặng nề về kinh tế. Vấn đề mất ổn định có thể xảy ra trong thời gian dài hay ngắn tùy theo vào mức độ sự cố và cấu trúc lưới của hệ thống điện đó. Việc nghiên cứu ổn định hệ thống điện không những sẽ giúp ngăn chặn mất điện diện rộng mà còn là cơ sở để đưa ra các quyết định, các chiến lược về thiết kế, mở rộng hệ thống điện và phương thức vận hành. Ổn định hệ thống điện gồm ổn định góc rotor, ổn định tần số và ổn định điện áp.
Luận văn tập trung chủ yếu vào tìm hiểu về đánh giá ổn định điện áp [1]. Trong những năm gần đây thì NLTT đang là một xu thế của toàn cầu nói chung cũng như Việt Nam nói riêng đỉnh điểm là năm 2019 là năm của năng lượng điện mặt trời khi có một lượng lớn công suất của điện mặt trời ồ ạt đưa vào hệ thống điện. Việc đưa vào vận hành nguồn điện mặt trời có nhiều thuận lợi như tận dụng được năng lượng tái tạo sơ cấp giúp tiết kiệm được chi phí sản xuất điện từ các nguồn điện truyền thống như than, khí gas…, giúp hệ thống điện miền Nam tự cân đối nội miền. Tuy nhiên việc giải tỏa được công suất của nguồn năng lượng tái tạo là một bài toán khó cho ngành điều độ bởi cơ sở hạ tầng về lưới điện chưa đáp ứng được nguồn công suất khá lớn, mặt khác đa phần các nhà máy năng lượng tái tạo tập trung chủ yếu ở các khu vực như Ninh Thuận, Bình Thuận… khá xa so với những khu vực tập trung phụ tải cao do đó bài toán cơ sở hạ tầng lưới điện hết sức nan giải.
Việc đặt ra yêu cầu khai thác tối đa các nguồn NLTT đang là yêu cầu bức thiết của ngành điều độ nhưng bên cạnh đó vẫn còn những ràng buộc về các yêu cầu ổn định điện áp, tần số, và khả năng mang tải của lưới điện [2]. Từ các ràng buộc về ổn định điện áp và yêu cầu khai thác nguồn NLTT và vận hành các nguồn NLTT đó để xác định được giới hạn truyền tải công suất Bắc – Nam và điểm sụp đổ điện áp là những vấn đề đang được ngành điều độ tính toán.2 MỤC TIÊU CỦA LUẬN VĂN Mục tiêu của luận văn là khảo sát ổn định điện áp xác định được các nút có điện áp thấp vượt ngưỡng vận hành cho phép theo thông tư quy trình điều độ hệ thống điện của Bộ Công Thương [3] xét trong chế độ vận hành bình thường và chế độ sự cố N-1 tại các nút của hệ thống điện miền Nam. Khảo sát đặc tính đường cong P-V để xác định được điểm sụp đổ điện áp của hệ thống và các nút có điểm sụp đổ điện áp nhỏ hơn ngưỡng vận hành cho phép để ta có các biện pháp ngăn ngừa và cải thiện ổn định điện áp. Luận văn xác định được giới hạn truyền tải Bắc Nam của hệ thống điện miền Nam dựa trên các điều kiện ràng buộc về điện áp, khả năng mang tải của lưới điện.
Khảo sát đặc tính đường cong Q-V để đánh giá độ dự trữ công suất phản kháng tại các nút 220kV (do phạm vi quản lý vận hành nên chỉ tập trung ở lưới 220kV là chủ yếu) của hệ thống từ đó tìm ra được các nút có độ dự trữ công suất phản kháng thấp và có các biện pháp khắc phục cải thiện vấn để về điện áp. Dựa vào các ràng buộc về ổn định điện áp luận văn sẽ tính toán ra được khả năng huy động nguồn NLTT của hệ thống để tránh sụp đổ điện áp và ứng với từng trường hợp huy động nguồn NLTT ta xác định được điện áp tới hạn của hệ thống và khả năng truyền tải công suất Bắc Nam. Từ đó đưa ra các yêu cầu về việc vận hành và huy động nguồn năng lượng tái tạo của hệ thống để tránh tình trạng sụp đổ điện áp đảm bảo công tác vận hành hệ thống điện.3 TẦM QUAN TRỌNG CỦA LUẬN VĂN Việc đảm bảo cung cấp điện liên tục tin cậy là mục tiêu hàng đầu trong công tác điều độ vận hành hệ thống điện do đó điều kiện ràng buộc về ổn định điện áp và giới giới hạn công suất truyền tải là rất quan trọng để đảm bảo tính an toàn của hệ thống và khả năng cung cấp điện liên tục tin cậy. Điện áp là một tiêu chí hết sức quan trọng trong bài toán chất lượng điện năng cũng như bài toán kinh tế bởi điện áp là một phần của tổn thất điện điện năng trong truyền tải điện bởi lý do đó việc xác định những dao động điện áp cũng như là những nút có điện áp vận hành ngoài phạm vi cho phép theo quy định của thông tư là hết sức cấp thiết.
Từ đó chúng ta tính toán cải thiện và ngăn ngừa các vấn đề về điện áp tại các nút đó để hệ thống vận hành ổn định tin cậy. 4 Nguồn NLTT đang phát triển khá nhanh chóng vì thế việc huy động nguồn NLTT là ưu tiên hàng đầu trong vận hành hệ thống nhưng bên cạnh đó cũng phải xét đến các ràng buộc về điện áp, khả năng mang tải của lưới điện. Qua đó luận văn tính toán huy động được nguồn NLTT tối thiểu phải phát và ứng với các trường hợp tìm ra được điểm sụp đổ điện áp và giới hạn truyền tải của hệ thống. Đưa ra được các yêu cầu về vận hành nguồn NLTT cũng như khả năng đáp ứng về điện áp trong trường hợp vận hành bình thường và sự cố N-1.4 PHƯƠNG PHÁP VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đầu tiên luận văn đưa ra thuật toán cũng như phương pháp để tính toán huy động nguồn năng lượng tái tạo trên hệ thống điện miền Nam dựa trên điều kiện ổn định động.
Tiếp đến luận văn sẽ khảo sát điện áp tại các nút 220kV,110kV của hệ thống điện miền Nam (dựa trên tổng thể hệ thống điện Việt Nam) trong chế độ vận hành bình thường và chế độ sự cố N-1 để xác định được các nút có điện áp vượt ngưỡng vận hành cho phép. Khảo sát đặc tính đường cong PV, QV của hệ thống điện miền Nam (nhận công suất từ HTĐ miền Bắc) để xác định được điểm sụp đổ điện áp và giới hạn công suất truyền tải của hệ thống. Xác định độ dự trữ công suất phản kháng của các nút 220kV trong hệ thống và đưa ra các biện pháp cải thiện độ dự trữ công suất phản kháng và cải thiện vấn đề ổn định điện áp trong hệ thống điện miền Nam. Tính toán huy động nguồn NLTT của hệ thống điện miền Nam dựa trên các ràng buộc về ổn định điện áp, ứng với từng kịch bản huy động nguồn tính được điểm sụp đổ điện áp và giới hạn truyền tải của hệ thống và đưa ra các yêu cầu về vận hành nguồn NLTT.5 TÍNH MỚI CỦA LUẬN VĂN Luận văn khảo sát trên toàn bộ hệ thống điện miền Nam với số liệu được kiểm chứng sát với thông số vận hành lấy từ SCADA theo phương thức vận hành năm của trung tâm điều độ HTĐ miền Nam A2.
Thông số vận hành của các phần tử trên hệ thống điện cũng như các đường dây liên kết hệ thống điện miền sát với thực tế vận hành và được kiểm chứng với các báo cáo tính toán của A0 về việc xác định giới hạn truyền tải Trung – Nam trong các chế độ vận hành khác nhau ứng với các thời điểm phụ tải điển hình của hệ thống điện miền Nam. TỔNG QUAN HỆ THỐNG ĐIỆN MIỀN NAM Chương 2 sẽ giới thiệu tổng quan về hệ thống điện miền Nam (theo phạm vi quản lí vận hành thì luận văn tập trung chủ yếu về lưới 220kV 110kV và phần 500kV chỉ nói tổng quát) và phân tích lựa chọn phần mềm tính toán.1 TỔNG QUAN HỆ THỐNG ĐIỆN MIỀN NAM - Miền Nam có địa hình tương đối bằng phẳng, độ dốc nhỏ trải dài từ Đông Nam Bộ về đồng bằng sông Cửu Long. Hệ thống điện miền Nam cấp điện cho 22 tỉnh, thành phố gồm: Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận, Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh, Cần Thơ, An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Long An, Cà Mau, Sóc Trăng, Hậu Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Kiên Giang, Tiền Giang.1 Nguồn điện truyền thống và NLTT - Tổng công suất đặt của các NMĐ ở miền Nam chiếm khoảng 41% (23503MW) tổng công suất đặt của các NMĐ của HTĐ quốc gia (57318MW). - HTĐ miền nam có nhiều loại hình cơ cấu nguồn điện nhất trong HTĐ quốc gia.
• Khu vực miền Nam nằm gần các mỏ khí đốt: khí Nam Côn Sơn, khí Cửu Long (cung cấp điện cho các nhà máy điện Phú Mỹ-Bà Rịa), khí PM3 (cung cấp khí cho NMĐ Cà Mau). Nên tuabin khí có tổng công suất đặt lớn chiếm khoảng 31% (7074MW) (Phân bố ở khu vực miền đông và Cà Mau). Đây là loại hình nhà máy điện chỉ có ở miền Nam nên thường được gọi là đặc sản ở miền Nam. • Nhiệt điện than có tổng công suất đặt khoảng 34% (8079MW): Duyên Hải, Vĩnh Tân, Fomosa… • Do địa hình miền nam tương đối bằng phẳng nên thủy điện có tổng công suất đặt nhỏ hơn miền bắc và miền trung, chiếm khoảng 9% (2079MW) tổng công suất đặt ở miền Nam.
Phân bố chủ yếu ở các tỉnh có địa hình cao: Trị An, Bình Phước, Lâm Đồng, Đồng Nai… • Nhiệt điện dầu chiếm khoảng 7% (1068MW) tổng công suất đặt ở miền Nam. • Nguồn năng lượng tái tạo chiếm khoảng 22% (5129MW). • Nhà máy sinh khối Bourbon 49MW ở Tây Ninh sử dụng bã mía là nguyên 6 liệu để sản xuất và phát điện lên lưới nhưng chỉ phát điện vào vụ thu hoạch mía.