Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) Chương 2. Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong việc tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường Chương 3. Một số giải pháp nâng cao trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp khai khác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong việc tuân thủ các quy định vê bảo vệ môi trường 4 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP 1. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) 1. Nguồn gốc và định nghĩa Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về CSR. Các định nghĩa này đi từ đơn giản cho đến phức tạp phụ thuộc vào quan điểm, cách nhìn nhận, đặc điểm và trình độ phát triển của mỗi tổ chức, doanh nghiệp và quốc gia.
Trong nghiên cứu của mình, Mc Guire (1963) lần đầu tiên đưa ra định nghĩa về CSR. Theo đó CSR là nói tới một công ty không chỉ có nghĩa vụ về mặt kinh tế và chấp hành luật pháp mà còn phải có những trách nhiệm nhất định khác đối với xã hội. Những trách nhiệm này phải được mở rộng và vượt lên trên những nghĩa vụ và bổn phận khác. Như vậy, theo quan điểm này, doanh nghiệp không chỉ có nghĩa vụ tạo ra giá trị về mặt kinh tế và tuân thủ luật pháp đối với doanh nghiệp mà còn có những trách nhiệm nhất định đối với xã hội.
Nhà kinh tế học Milton Friedman (1970) đã đưa ra quan điểm của mình về vấn đề này, ông cho rằng, doanh nghiệp chỉ có một trách nhiệm duy nhất là tối đa hóa lợi nhuận, gia tăng giá trị cổ đông, trong khuôn khổ luật chơi của thị trường là cạnh tranh trung thực và công bằng. Theo quan điểm của Friedman, trách nhiệm của doanh nghiệp là tạo ra giá trị gia tăng, phát triển công nghệ, đem lại lợi nhuận, tạo ra việc làm và thu nhập cho người lao động. Trách nhiệm chính của doanh nghiệp đối với nhà nước là đóng thuế. Và trách nhiệm của nhà nước là làm sao sử dụng tiền thuế đó hiệu quả nhất vì lợi ích công cộng.
Keith Davis (1973) đã đưa ra một khái niệm khá rộng về CSR khi cho rằng CSR là sự quan tâm và phản ứng của doanh nghiệp với các vấn đề vuợt ra ngoài việc thỏa mãn những yêu cầu pháp lý, kinh tế, công nghệ. Theo ông, ngoài việc đáp ứng trách nhiệm về pháp luật, kinh tế và công nghệ thì tất cả những 5 hành động của doanh nghiệp đối với xã hội đều được xem là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đó. Với quan điểm này, quy mô của CSR là khá rộng và không rõ ràng. Cùng với xu hướng phát triển kinh tế thế giới theo hướng bền vững, Ủy ban Thương mại thế giới về phát triển bền vững cho rằng: CSR là sự cam kết liên tục của doanh nghiệp thông qua hoạt động kinh doanh bằng cách cư xử có đạo đức và đóng góp vào sự phát triển kinh tế trong khi cải thiện chất lượng cuộc sống của lực lượng lao động và gia đình họ cũng như cộng đồng địa phương và toàn xã hội nói chung.
Doanh nghiệp không chỉ đơn thuần là một tổ chức thu lợi nhuận mà còn cần phải trở thành một phần của cộng đồng. Họ không chỉ thúc đẩy lợi ích của các cổ đông mà còn hướng tới lợi ích của tất cả các bên liên quan. Trong khi đó, Carroll (1999) cho rằng CSR còn có phạm vi lớn hơn, là tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức, và những lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi ở doanh nghiệp trong mỗi thời điểm nhất định. Gần đây chuyên gia của Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra khái niệm: “CSR là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động và gia đình họ; cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội.” Khái niệm này được đánh giá là hoàn chỉnh, rõ ràng và dễ hiểu nhất vì bản thân khái niệm này đã chỉ rõ trách nhiệm của doanh nghiệp với tư cách là cam kết hành động, là kim chỉ nam cho các chính sách của doanh nghiệp đóng góp vào quá trình phát triển xã hội.
Doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở việc tuân thủ mà còn có thể chủ động, tự nguyện thực hiện CSR vì lợi ích của mình cũng như vì cộng đồng. Như vậy, mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về CSR nhưng một cách chung nhất, các khái niệm đều phản ánh nội hàm của CSR hài hòa dựa trên nguyên tắc 3Ps (Con người – Hành tinh – Lợi nhuận). Điều này có nghĩa là sự tồn tại và 6 phát triển của doanh nghiệp phải gắn kết với lợi ích của con người, với sự phát triển chung của toàn xã hội. Ở Việt Nam, khái niệm CSR hiện nay được ứng dụng phổ biến theo khái niệm mà WB đưa ra gần đây.
Trong thực tế, đa số các doanh nghiệp ở Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ thực hiện CSR chủ yếu là các hành động về từ thiện, nhân đạo. Tuy nhiên, nhân đạo, từ thiện chỉ là trách nhiệm tùy tâm trong rất nhiều nội dung của thực hành CSR. Trong quy chế và tiêu chỉ xét thưởng của giải thưởng Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp 2009, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) giới hạn trách nhiệm xã hội doanh nghiệp ở hai lĩnh vực lao động và môi trường, nhưng cũng đặt thêm tiêu chí “hoạt động kinh doanh có hiệu quả kinh tế”. Nói cách khác, VCCI dùng khái niệm 3P như đa số các tổ chức và doanh nghiệp khác trên thế giới.
Nội dung của CSR 1. Bộ ba cốt lõi bền vững của CSR Trong những năm 1970 và 1980, nội dung của CSR tập trung vào hoạt động từ thiện, đạo đức kinh doanh và quyền công dân. Sau đó nội dung của CSR được phát triển thành Bộ ba cốt lõi bền vững (triple bottom line) thường được biết đến như ngày hôm nay. Khái niệm “bộ ba cốt lõi bền vững” được John Elkington giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1994.
Ông là sáng lập viên của một tổ chức tư vấn của Anh có tên SustainAbility (Bền vững). Theo ông, các doanh nghiệp cần xây dựng ba yếu tố trụ cột riêng rẽ và khác nhau. Yếu tố đầu tiên là “Lợi nhuận” (kinh tế) để đo lường lợi nhuận của doanh nghiệp theo cách truyền thống. Yếu tố thứ hai đó là “Con người” (xã hội) để đo lường trách nhiệm của một tổ chức đối với xã hội trong quá trình hoạt động của mình dưới các cách thức và hình thức khác nhau.
Yếu tố thứ ba là “Trái Đất” (môi trường) để đo lường trách nhiệm của tổ chức đó đối với môi trường. Tóm lại, bộ ba cốt lõi bền vững gồm có 3P: Profit (lợi nhuận), People (con người) và Planet (Trái Đất). 7 Lợi nhuận Trái đất CSR Con người Nguồn: John Elkington, 1999 Sơ đồ 1.1: Bộ ba cốt lõi bền vững của CSR Mô hình này mở ra những góc nhìn tiến bộ mới về vấn đề phát triển kinh tế bền vững. Theo mô hình này thì CSR là phần giao thoa giữa lợi nhuận, con người và trái đất.
Nghĩa là trách nhiệm của một doanh nghiệp là sự kết hợp hài hòa giữa lợi nhuận doanh nghiệp, lợi ích con người và sự phát triển của toàn xã hội. Mô hình kim tự tháp CSR của Caroll Mô hình “Kim tự tháp” về CSR được A. Carroll (1999) kế thừa và phát triển từ mô hình ba nội dung ở trên. Mô hình này có tính toàn diện và được sử dụng rộng rãi nhất.
Theo đó, CSR bao gồm trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm tùy tâm. 8 Trách nhiệm Tùy tâm Là một công dân trách nhiệm tốt. Có đóng góp cho nguồn lực cộng đồng, cải thiện chất lượng cuộc sống. Trách nhiệm Đạo đức Thực hiện đúng những gì được coi là công bằng, đúng đắn, hợp lý Trách nhiệm Pháp lý Cần phải hoạt động theo đúng luật pháp Trách nhiệm Kinh tế Cần phải có lợi nhuận.2: Mô hình kim tự tháp CSR của Caroll Thực hiện trách nhiệm kinh tế - có nghĩa là thực hiện đảm bảo lợi ích tối đa và công bằng cho các đối tượng liên quan (người tiêu dùng, nhà cung cấp, chủ tài sản, người lao động.
Đây là trách nhiệm được đặt lên hàng đầu của mỗi doanh nghiệp bởi mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận. Các trách nhiệm còn lại đều phải dựa trên ý thức trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp. Thực hiện trách nhiệm pháp lý chính là việc doanh nghiệp thực hiện công việc kinh doanh tuân thủ trong khuôn khổ các quy định của luật pháp địa phương và quốc tế đặt ra về các quy tắc cơ bản trong kinh doanh (được thể hiện qua các bộ luật nhằm điều tiết cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường cũng như các vấn đề về an toàn, bình đẳng đối với người lao động và khuyến khích phát hiện, ngăn chặn các hành vi sai trái). Đây là điều kiện để doanh nghiệp được thừa nhận một cách chính thức trên thị trường.
Trách nhiệm kinh tế và trách nhiệm pháp lý là hai bộ phận cơ bản, không thể thiếu của CSR. Thực hiện trách nhiệm đạo đức là thực hiện những hành vi được xã hội mong đợi. Những hành vi được mong đợi này có thể không có trong quy định pháp luật 9 nhưng tuân thủ theo những tiêu chuẩn, chuẩn mực, quy tắc ứng xử của xã hội phản ánh mối quan tâm của những đối tượng liên quan. Những hành động này quyết định hình ảnh, giá trị và nhân cách của công ty đối với cộng đồng.
Vì thế, doanh nghiệp cần thực hiện không chỉ tuân theo luật pháp mà còn cần thực hiện những cam kết ngoài luật này nhằm có được sự tôn trọng của ngành, của xã hội. Trách nhiệm đạo đức là tự nguyện nhưng lại chính là trung tâm của CSR. Thực hiện trách nhiệm tùy tâm là những hành vi của doanh nghiệp vượt ra ngoài sự trông đợi của xã hội như quyên góp ủng hộ người thiệt thòi trong xã hội, tài trợ học bổng, đóng góp cho các dự án cộng đồng,… Điểm khác biệt giữa trách nhiệm tùy tâm và trách nhiệm đạo đức là doanh nghiệp hoàn toàn tự nguyện. Nếu họ không thực hiện CSR ở mức độ này, họ vẫn được coi là đáp ứng đủ các chuẩn mực mà xã hội trông đợi.