Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1. Tổng quan về thị trường chứng khoán. Khái niệm về thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán ra đời từ rất lâu và được xem là đặc trưng cơ bản, là biểu tượng của nền kinh tế hiện đại.
Ngày nay, hầu hết các nước đều có thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán trở thành một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế thị trường. Có nhiều quan niệm khác nhau về Thị trường Chứng khoán, đa số các nhà kinh tế đều cho rằng“ thị trường chứng khoán được đặc trưng bởi thị trường vốn”, là nơi diễn ra hoạt động mua, bán vốn thời hạn ít nhất là trên một năm [7]. Như vậy, theo khái niệm này thì thị trường chứng khoán chỉ bao gồm các hoạt động giao dịch đối với các công cụ tài chính dài hạn như trái phiếu Chính phủ, cổ phiếu và trái phiếu công ty, còn lại các giao dịch đối với các công cụ ngắn hạn ở thị trường tiền tệ như tín phiếu Kho bạc, chứng chỉ tiền gửi ngân hàng, v.v…, sẽ không thuộc phạm vi hoạt động của thị trường chứng khoán.
Vào thế kỷ từ 15 đến thế kỷ 18, tại hầu hết các trung tâm giao dịch ở Châu Âu, đối tượng mua bán phổ biến và chủ yếu là các hình thức trái phiếu Chính phủ, ngoài ra ở một số trung tâm khác gồm cả các phiếu nợ dài hạn của các công ty. Những công cụ tài chính này chính là các công cụ nợ trung và dài hạn thuộc phạm vi của thị trường vốn. Sang đến thế kỷ 19, với sự phát triển mạnh mẽ của hình thức công ty cổ phần do những ưu thế tuyệt đối của mô hình công ty loại này, đối tượng mua bán chiếm tỷ trọng tuyệt đối và nhộn nhịp nhất tại các Sở giao dịch chứng khoán là cổ phiếu. Như vậy, trong giai đoạn đầu hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán, tại hầu hết các trung tâm giao dịch ở các nước Châu Âu, Bắc Mỹ và các nước khác, đối tượng mua bán chủ yếu là các loại trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty và cổ phiếu.
Tuy nhiên, tại những nơi khác ngoài các trung tâm giao dịch nói trên, các giấy tờ có giá với thời hạn ngắn hơn vẫn được mua đi bán lại bởi công chúng, các doanh nghiệp và các trung gian tài chính. Đặc biệt, đến giai đoạn hiện nay, các loại công cụ tài chính ngắn hạn (các công cụ nợ có thời hạn dưới một năm) như tín phiếu kho bạc, tín phiếu ngân 12 hàng, chứng chỉ tiền gửi, v.v…, được coi như là hàng hoá của thị trường chứng khoán và được giao dịch rất nhộn nhịp. Những giao dịch này cũng là một bộ phận quan trọng của hệ thống thị trường tài chính của các nước trên thế giới. Các công cụ nợ ngắn hạn nói trên cũng là chứng khoán và luôn có tính thanh khoản rất cao, chúng không chỉ là công cụ hiệu quả trong việc đáp ứng khả năng thanh toán ngân sách Nhà nước, các doanh nghiệp cũng như các trung gian tài chính, phù hợp với các nhà đầu tư không ưu thích mạo hiểm, mà giá cả của chúng tương đối nhạy cảm trên thị trường trong điều kiện tự do hoá lãi suất, chính vì vậy, các công cụ này được mua bán rất nhộn nhịp trên thị trường.
Như vậy, nếu quan niệm thị trường chứng khoán là nơi mua bán vốn với thời hạn ít nhất là trên một năm sẽ không phản ánh đầy đủ các hoạt động của thị trường chứng khoán, vô hình dung đã bỏ qua một mảng hoạt động giao dịch mua bán các công cụ tài chính ngắn hạn khá quan trọng và có xu hướng ngày càng phát triển trong nền kinh tế hiện đại, đặc biệt là ở các nước phát triển. Cũng có quan điểm cho rằng thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động mua bán tất cả các loại giấy tờ có giá [11]. Với quan điểm này cũng không phù hợp, vì phạm vi quá rộng so với hoạt động thực tế của thị trường chứng khoán, bởi lẽ không phải bất cứ loại giấy tờ có giá nào cũng được coi là chứng khoán, chỉ có những giấy tờ có giá xác định vốn đầu tư (tư bản đầu tư), xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền đòi nợ hợp pháp, bao gồm các điều kiện về thu nhập và tài sản trong một thời hạn nào đó và có khả năng chuyển nhượng mới được gọi là chứng khoán. Nói một cách khách quan, đầy đủ, chính xác và phù hợp với hoạt động thực tế của thị trường chứng khoán nói chung trên thế giới, thì thị trường chứng khoán được định nghĩa là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời.
Tuy nhiên, đó có thể là TTCK tập trung hoặc phi tập trung. Chứng khoán được hiểu là các giấy tờ có giá hay bút toán ghi sổ, nó cho phép chủ sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản của tổ chức phát hành. Các quyền yêu cầu này có sự khác nhau giữa các loại chứng khoán, tuỳ theo tính chất sở hữu chúng. Chẳng hạn, với chứng khoán nợ, như trái phiếu, chủ sở hữu có quyền được nhận lãi định kỳ và nhận toàn bộ giá trị cam kết, sau một thời hạn nhất định, từ giá trị tài sản của tổ chức phát hành.
13 Khác với chứng khoán nợ, cổ phiếu xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với một phần tài sản khi công ty được bán đi, kèm theo với một phần lợi nhuận do tài sản đó làm ra [8]. Ngoài ra, cổ đông còn có quyền tham gia quản lý công ty thông qua quyền tham gia và bỏ phiếu tại Đại hội đồng cổ đông, quyền mua trước đối với cổ phiếu phát hành thêm. Với các đặc trưng này, chứng khoán được xem là các tài sản tài chính mà giá trị của nó phụ thuộc vào giá trị kinh tế cơ bản của các quyền của chủ sở hữu đối với tổ chức phát hành. Hàng hoá trên thị trường chứng khoán bao gồm tất cả các công cụ tài chính mang lại quyền đòi nợ - trái phiếu và tín phiếu; các công cụ tài chính có tính chất tham gia sở hữu - cổ phiếu [12].
Chứng khoán có thể là công cụ tài chính dài hạn trên thị trường vốn mà cũng có thể là các công cụ tài chính ngắn hạn trên thị trường tiền tệ. Chủ thể tham gia trên thị trường chứng khoán bao gồm người phát hành, nhà đầu tư và những định chế trung gian tài chính tham gia kinh doanh, cung cấp dịch vụ và thực hiện điều tiết giám sát thị trường. Các phương thức giao dịch trên thị trường chứng khoán rất đa dạng nhưng đều mang những đặc điểm chung là tính cạnh tranh hoàn hảo và tính liên tục. Như vậy, theo tác giả, quan niệm về thị trường chứng khoán là một thị trường mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời sẽ phản ánh đầy đủ tất cả các hoạt động giao dịch của các chủ thể tham gia cũng như tất cả các loại chứng khoán được mua bán, trao đổi trên các bộ phận thị trường.
Phân loại thị trường chứng khoán. Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, người ta có thể phân loại thị trường chứng khoán theo các tiêu chí khác nhau. Tuy nhiên, theo tác giả có ba cách phân loại phổ biến nhất hiện nay đang được sử dụng đó là: Phân loại theo hàng hoá, phân loại theo hình thức tổ chức thị trường và phân loại theo quá trình luân chuyển vốn: 1. Phân loại theo hàng hoá.
Theo các loại hàng hoá được mua bán trên thị trường chứng khoán, người ta có thể phân thị trường chứng khoán thành thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu và thị trường các công cụ phái sinh. Thị trường trái phiếu là thị trường mà hàng hoá được mua bán tại đó là các trái phiếu [9]. Trái phiếu thường có thời hạn xác định, có thể là trung hạn và dài 14 hạn, những nhà đầu tư không ưu thích mạo hiểm thường thích tham gia thị trường trái phiếu. Thị trường cổ phiếu là nơi giao dịch, mua bán, trao đổi các giấy tờ xác nhận cổ phần đóng góp của cổ đông.
Cổ đông là chủ sở hữu của công ty và phải chịu trách nhiệm trong phần đóng góp của mình. Cổ phiếu sẽ cho phép họ có quyền yêu cầu đối với lợi nhuận sau thuế của công ty cũng như đối với tài sản của công ty khi tài sản này được đem bán. Cổ phiếu không có thời hạn xác định. Thị trường các công cụ phái sinh là nơi các chứng khoán phái sinh được mua và bán.
Tiêu biểu cho các công cụ này là hợp đồng kỳ hạn (Future Contracts), hợp đồng quyền chọn (Options) [9]. Thị trường này ngày càng trở nên quan trọng đối với các nhà quản lý tài chính. Nó cung cấp các công cụ phòng vệ hữu hiệu, đồng thời cũng là công cụ đầu cơ lý tưởng cho các nhà đầu tư. Ba thị trường trên là ba thành tố cơ bản cấu thành lên thị trường chứng khoán, tuỳ thuộc vào sự phát triển của mỗi nền kinh tế, các thị trường này sẽ có sự phát triển khác nhau, đối với những nền kinh tế phát triển, thị trường các công cụ dẫn suất sẽ rất phát triển, tuy nhiên đối với thị trường chứng khoán mới mẻ như Việt Nam thì thị trường này lại rất trầm lắng.
Phân loại theo quá trình luân chuyển vốn. Dựa vào quá trình luân chuyển vốn, thị trường được phân thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. Thị trường sơ cấp hay còn gọi là thị trường cấp 1 (Primary Market) là thị trường phát hành các chứng khoán. Tại thị trường này, giá cả chứng khoán là giá phát hành, việc mua bán chứng khoán trên thị trường sơ cấp làm tăng vốn cho nhà phát hành.
Thị trường thứ cấp là thị trường giao dịch mua bán, trao đổi những chứng khoán đã được phát hành nhằm mục đích kiếm lời, di chuyển vốn đầu tư hay di chuyển tài sản xã hội. Thị trường sơ cấp sẽ là kênh thu hút vốn quan trọng cho các doanh nghiệp cũng như Chính phủ thông qua việc phát hành chứng khoán. Trong khi đó thị 15 trường thứ cấp sẽ làm tăng tính thanh khoản của các loại chứng khoán được phát hành. Phân loại theo hình thức tổ chức của thị trường.
Nếu dựa vào cách thức tổ chức của thị trường, ta có thể phân chia thị trường chứng khoán thành các Sở giao dịch (Stock Exchange) và thị trường giao dịch phi tập trung (Over – The – Counter Market).