Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Thị trường chứng khoán Việt Nam sau hơn hai thập kỷ hình thành và phát triển đã từng bước hoàn thiện cấu trúc gồm thị trường huy động vốn và thị trường phân tán rủi ro. Nhằm giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư và bảo đảm thị trường phát triển bền vững, hệ thống pháp luật Việt Nam đã phân chia các loại hình chứng khoán dựa trên mục đích đầu tư. Thị trường chứng khoán phái sinh (TTCKPS) chính thức vận hành phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 10/8/2017 với sản phẩm hợp đồng tương lai chỉ số VN30, đưa Việt Nam trở thành quốc gia thứ năm trong khu vực ASEAN và thứ 42 trên thế giới có thị trường chứng khoán phái sinh. Sau hơn 06 năm hoạt động, thị trường ghi nhận tốc độ tăng trưởng bình quân 27,46%/năm theo số liệu của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, khẳng định vai trò thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ thị trường chứng khoán và đáp ứng điều kiện bắt buộc để xét nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi theo Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2030.

Tuy nhiên, thực tiễn vận hành cho thấy danh mục sản phẩm trên thị trường giao dịch chứng khoán phái sinh (TTGDCKPS) tại Việt Nam còn tương đối đơn giản, số lượng hàng hóa chưa phong phú, cơ cấu nhà đầu tư chưa đa dạng và các thành viên giao dịch hoạt động chưa thực sự sôi động. Bên cạnh đó, thị trường đối mặt với nhiều thách thức pháp lý như: chính sách thuế đối với chứng khoán phái sinh chưa phản ánh sát bản chất công cụ tài chính; quy định về vị trí, vai trò và tiêu chuẩn của các chủ thể kinh doanh còn cần tiếp tục kiện toàn; công tác quản lý và giám sát giao dịch đòi hỏi phải tăng cường để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư. Trong khi đó, Luật Chứng khoán năm 2019 mới chỉ có 11 lần nhắc đến thuật ngữ chứng khoán phái sinh và 01 lần nhắc đến thị trường chứng khoán phái sinh, chưa thiết lập đầy đủ quy chế điều chỉnh đặc thù cho từng loại hợp đồng phái sinh.

Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả Tạ Minh Thảo đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Kinh tế tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2024) với đề tài: "Pháp luật về thị trường giao dịch chứng khoán phái sinh tại Việt Nam".

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể theo ba nhiệm vụ:

  1. Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về TTGDCKPS và làm rõ mô hình pháp luật điều chỉnh TTGDCKPS;
  2. Phân tích một số quy định pháp luật về TTGDCKPS của một số quốc gia (Hoa Kỳ, Singapore, Trung Quốc), từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;
  3. Phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật cùng thực tiễn áp dụng pháp luật về TTGDCKPS tại Việt Nam, từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trong giai đoạn hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận về TTGDCKPS và hệ thống quy định pháp luật về chứng khoán phái sinh tại Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu bao gồm:

  • Nghiên cứu, xây dựng hệ thống các vấn đề lý luận pháp lý về TTGDCKPS tại Việt Nam;
  • Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật (trọng tâm là Nghị định số 42/2015/NĐ-CP, Nghị định số 158/2020/NĐ-CP và Luật Chứng khoán năm 2019) cùng thực tiễn áp dụng trên thị trường giao dịch chứng khoán phái sinh Việt Nam;
  • Đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh TTGDCKPS tại Việt Nam hiện nay.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận và pháp lý, khóa luận vận dụng các quy định của hệ thống pháp luật Việt Nam:

  • Luật Chứng khoán năm 2019 (đặc biệt là khoản 1 Điều 4 quy định khái niệm chứng khoán; khoản 9 Điều 4 quy định khái niệm chứng khoán phái sinh; khoản 11 và khoản 12 Điều 4 về hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn; Điều 118 về nghĩa vụ báo cáo và công bố thông tin);
  • Nghị định số 158/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ về chứng khoán phái sinh và thị trường chứng khoán phái sinh (thay thế Nghị định số 42/2015/NĐ-CP ngày 05/5/2015);
  • Thông tư số 11/2016/TT-BTC hướng dẫn Nghị định số 42/2015/NĐ-CP;
  • Các quyết định định hướng chiến lược của Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 128/2007/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Phát triển thị trường vốn Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020; Quyết định số 252/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 về Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán giai đoạn 2011-2020; Quyết định số 366/2014/QĐ-TTg ngày 11/3/2014 phê duyệt Đề án Xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán phái sinh Việt Nam; Quyết định số 242/QĐ-TTg ngày 28/02/2019 phê duyệt Đề án Cơ cấu lại thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm đến năm 2020, định hướng đến năm 2025;
  • Điều 112 Bộ luật Lao động năm 2019 (áp dụng xác định ngày đáo hạn khi trùng ngày nghỉ lễ).

Đồng thời, nghiên cứu tiếp cận khung pháp lý và thông lệ quốc tế về chứng khoán phái sinh tại:

  • Hoa Kỳ: Hệ thống pháp luật liên bang, Đạo luật quản lý thị trường tương lai do Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch (SEC), Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Tương lai (CFTC) và Hiệp hội Giao dịch Tương lai Quốc gia (NFA) giám sát;
  • Singapore: Quy định của Cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS) và Đạo luật Chứng khoán và Hàng hóa tương lai (sửa đổi năm 2018 mở rộng sang các sản phẩm OTC);
  • Trung Quốc: Luật về Hợp đồng tương lai và Chứng khoán phái sinh (Futures and Derivatives Law - FDL) có hiệu lực từ ngày 01/8/2022 dưới sự điều tiết của Ủy ban Điều tiết Chứng khoán Trung Quốc (CSRC).

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu luật học chuyên ngành:

  • Phương pháp phân tích, bình luận: Được sử dụng xuyên suốt cả ba chương nhằm mổ xẻ nội dung lý luận, phân tích các điều khoản pháp luật thực định và đánh giá tính hợp lý hoặc những điểm bất cập của quy định hiện hành;
  • Phương pháp so sánh luật học: Sử dụng để so sánh quy định giữa Nghị định số 42/2015/NĐ-CP và Nghị định số 158/2020/NĐ-CP; đối chiếu pháp luật Việt Nam với kinh nghiệm lập pháp của Hoa Kỳ, Singapore, Trung Quốc; phân biệt giữa giao dịch ký quỹ trên thị trường cơ sở với ký quỹ phái sinh, cũng như cơ chế bù trừ thanh toán phái sinh với chứng khoán cơ sở;
  • Phương pháp thống kê: Thu thập và trình bày các dữ liệu định lượng về tốc độ tăng trưởng, quy mô thị trường từ Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội và các tổ chức tài chính nhằm phản ánh thực trạng vận hành;
  • Phương pháp quy nạp, tổng hợp: Khái quát hóa các vấn đề pháp lý từ các quy định cụ thể, đưa ra nhận định về vai trò của thị trường và xây dựng kết luận cho từng chương cùng các kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

Nguồn dữ liệu của khóa luận gồm các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội và Chính phủ Việt Nam, báo cáo thống kê của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, tài liệu công bố của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, quy chế nghiệp vụ của Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam (TCTLKBTCK), các giáo trình luật kinh tế cùng các công trình luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ đã công bố liên quan đến thị trường chứng khoán phái sinh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thị trường giao dịch chứng khoán phái sinh

Chương này trình bày lịch sử hình thành, khái niệm, đặc điểm, phân loại và vai trò của chứng khoán phái sinh cùng khung pháp lý điều chỉnh:

  • Lịch sử hình thành và phát triển: Các công cụ phái sinh sơ khai xuất hiện từ thời Trung cổ tại các thành phố thương mại của Ý (cổ phiếu monti thế kỷ 13), sau đó phát triển mạnh tại Hà Lan thế kỷ 17 với Sàn giao dịch chứng khoán Amsterdam (1602) và sự kiện bong bóng hoa tulip (Tulip Mania 1636-1637). Trên thế giới hiện nay, quy mô giao dịch phái sinh vượt 2,5 nghìn tỷ USD mỗi ngày, duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 14%/năm. Tại Việt Nam, sau khi thị trường chứng khoán ra đời theo Nghị định số 48/1998/NĐ-CP, đến ngày 10/8/2017, thị trường phái sinh chính thức vận hành với hợp đồng tương lai chỉ số VN30.
  • Khái niệm và đặc điểm: Căn cứ khoản 9 Điều 4 Luật Chứng khoán năm 2019, chứng khoán phái sinh là công cụ tài chính dưới dạng hợp đồng xác nhận quyền, nghĩa vụ của các bên đối với việc thanh toán tiền hoặc chuyển giao tài sản cơ sở theo mức giá xác định trong tương lai. Tài sản cơ sở gồm hàng hóa (nông sản, kim loại, năng lượng) và công cụ tài chính cơ sở (cổ phiếu, chỉ số cổ phiếu, trái phiếu, lãi suất, tiền tệ). Chứng khoán phái sinh có 6 đặc điểm cơ bản: (1) luôn có ngày đáo hạn; (2) giá trị hình thành từ ít nhất một tài sản cơ sở; (3) mang lại đòn bẩy tài chính cao thông qua ký quỹ; (4) số lượng phát hành không bị giới hạn bởi tổ chức phát hành ban đầu; (5) việc hoàn tất giao dịch diễn ra trong tương lai theo thỏa thuận; (6) tính thanh khoản cao do niêm yết tập trung trên Sở Giao dịch Chứng khoán.
  • Phân loại: Theo phương thức giao dịch gồm chứng khoán phái sinh niêm yết (chuẩn hóa trên Sở Giao dịch Chứng khoán) và chứng khoán phái sinh phi tập trung (OTC - linh hoạt theo thỏa thuận song phương). Theo cấu trúc sản phẩm gồm 4 loại: hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn (quyền chọn mua, quyền chọn bán) và hợp đồng hoán đổi (hoán đổi lãi suất, tiền tệ, cổ phiếu, hàng hóa, tín dụng).
  • Vai trò: Tạo cơ chế xác định giá khách quan phản ánh cung - cầu; cung cấp công cụ phòng ngừa rủi ro biến động giá; nâng cao hiệu quả sử dụng vốn thông qua đòn bẩy tài chính và chi phí giao dịch thấp; gia tăng tính thanh khoản và liên kết giữa các phân khúc thị trường tài chính.
  • Quy trình giao dịch và phương thức giao dịch: Quy trình gồm 4 giai đoạn: (1) Trước giao dịch (mở tài khoản, nộp ký quỹ ban đầu); (2) Trong ngày giao dịch (đặt lệnh, khớp lệnh, hạch toán ký quỹ hàng ngày); (3) Ngày giao dịch cuối cùng/đáo hạn (định kỳ vào ngày Thứ Năm thứ ba trong tháng đáo hạn; nếu trùng ngày nghỉ theo Điều 112 Bộ luật Lao động năm 2019 thì tính vào ngày làm việc liền trước); (4) Ngày thanh toán T+1 (bù trừ, thanh toán, bổ sung ký quỹ hoặc rút lãi). Ba phương thức giao dịch gồm: khớp lệnh định kỳ, khớp lệnh liên tục và khớp lệnh thỏa thuận.

Bảng so sánh cơ chế ký quỹ giữa thị trường chứng khoán cơ sở và thị trường chứng khoán phái sinh:

Tiêu chí Thị trường chứng khoán cơ sở Thị trường giao dịch chứng khoán phái sinh
Mục đích Mua chứng khoán bằng tiền vay từ công ty chứng khoán; dùng chứng khoán có sẵn hoặc vừa mua để cầm cố Khoản đặt cọc bắt buộc nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thanh toán hợp đồng trong tương lai
Đối tượng áp dụng Chỉ áp dụng đối với bên mua Bắt buộc áp dụng đối với cả bên mua và bên bán
Chi phí Phải chịu lãi suất vay đối với phần vốn vay theo quy định của công ty chứng khoán Không chịu lãi suất vay; hoạt động ký quỹ vận hành theo tỷ lệ đòn bẩy quy định
Tính chất bắt buộc Dịch vụ tự nguyện do công ty chứng khoán cung cấp khi khách hàng có nhu cầu Biện pháp quản lý rủi ro bắt buộc trước khi mở vị thế giao dịch
  • Kinh nghiệm pháp luật quốc tế: Hoa Kỳ áp dụng cơ chế giám sát kép giữa SEC và CFTC, phối hợp với tổ chức tự quản NFA; Singapore trao thẩm quyền tập trung cho Cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS) giám sát cả sản phẩm niêm yết lẫn OTC từ năm 2018 theo Đạo luật Chứng khoán và Hàng hóa tương lai; Trung Quốc ban hành Luật FDL năm 2022 tạo khung pháp lý thống nhất cho hoạt động bù trừ trung tâm và quản trị rủi ro hệ thống.

Chương 2: Thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật về thị trường giao dịch chứng khoán phái sinh tại Việt Nam

Chương 2 tập trung phân tích các chế định pháp lý tại Nghị định số 158/2020/NĐ-CP so với Nghị định số 42/2015/NĐ-CP và đánh giá thực tiễn thi hành:

  • Quy định về tổ chức kinh doanh chứng khoán phái sinh: Nghị định số 158/2020/NĐ-CP phân tách rõ điều kiện của công ty chứng khoán (được phép thực hiện môi giới, tự doanh, tư vấn đầu tư) và công ty quản lý quỹ (chỉ được thực hiện tư vấn đầu tư). Điều kiện cấp Giấy chứng nhận cho công ty chứng khoán gồm: được cấp phép đủ nghiệp vụ; vốn khả dụng đạt tối thiểu 220% liên tục trong 12 tháng gần nhất; không có lỗ trong 02 năm gần nhất; trích lập dự phòng đầy đủ; ý kiến kiểm toán chấp nhận toàn phần; không trong quá trình giải thể, phá sản hoặc tạm đình chỉ. Đối với công ty quản lý quỹ, yêu cầu vốn điều lệ và vốn chủ sở hữu đạt tối thiểu từ 25 tỷ đồng trở lên, có tối thiểu 05 nhân viên có chứng chỉ chuyên môn về phái sinh và Giám đốc/Phó Giám đốc phụ trách nghiệp vụ có chứng chỉ hành nghề.
  • Quy định về tổ chức cung cấp dịch vụ bù trừ, thanh toán: Bổ sung các tiêu chuẩn cụ thể theo Điều 9 Nghị định số 158/2020/NĐ-CP. Công ty chứng khoán phải đạt tỷ lệ vốn khả dụng tối thiểu 260% liên tục trong 12 tháng, hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu không quá 05 lần và không lỗ 02 năm gần nhất. Phân định hai loại hình: thành viên bù trừ chung (được bù trừ cho chính mình, khách hàng của mình và cung cấp dịch vụ cho thành viên không bù trừ) và thành viên bù trừ trực tiếp (chỉ bù trừ cho chính mình và khách hàng của mình). Ngân hàng thương mại (vốn điều lệ tối thiểu 5.000 tỷ đồng) và chi nhánh ngân hàng nước ngoài (vốn được cấp tối thiểu 1.000 tỷ đồng) chỉ được đăng ký làm thành viên bù trừ cho giao dịch của chính mình. Bổ sung thẩm quyền của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước trong việc đình chỉ, chấm dứt hoạt động (Điều 11) và quy trình chấm dứt tự nguyện hoặc bắt buộc (Điều 12, Điều 13).
  • Quy định về tổ chức thị trường giao dịch: Sở Giao dịch Chứng khoán là đơn vị độc quyền tổ chức thị trường phái sinh niêm yết. Nghị định số 158/2020/NĐ-CP bổ sung quyền hạn cho Sở Giao dịch Chứng khoán áp dụng các biện pháp ổn định thị trường: điều chỉnh thời gian giao dịch, giới hạn lệnh, giới hạn vị thế, biên độ dao động giá, ngắt mạch thị trường (circuit breaker) và hạn chế mở vị thế mới. Phân định rõ ba nhóm thành viên: thành viên giao dịch (công ty chứng khoán), thành viên giao dịch đặc biệt (ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài giao dịch phái sinh dựa trên tài sản cơ sở là trái phiếu Chính phủ) và thành viên tạo lập thị trường (ký hợp đồng tạo lập thị trường với Sở Giao dịch Chứng khoán).
  • Quy định về bù trừ, thanh toán giao dịch: Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam (TCTLKBTCK) là đơn vị duy nhất đảm nhận chức năng thanh toán, bù trừ theo cơ chế đối tác bù trừ trung tâm (CCP). Nghị định số 158/2020/NĐ-CP cải tiến mô hình ký quỹ: thành viên bù trừ chỉ phải nộp mức ký quỹ yêu cầu đối với các vị thế còn lưu hành sau giờ đóng cửa giao dịch (thay vì ký quỹ trước toàn bộ vị thế như trước đây). Quy định cơ chế đóng góp, quản lý và sử dụng Quỹ bù trừ; trao quyền cho TCTLKBTCK xử lý tài sản ký quỹ khi thành viên mất khả năng thanh toán và thực hiện quyền từ chối thế vị đối với các giao dịch không hợp lệ.

Bảng so sánh hoạt động bù trừ, thanh toán giữa chứng khoán phái sinh và các chứng khoán khác:

Tiêu chí so sánh Bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán phái sinh Bù trừ, thanh toán các loại chứng khoán khác (cổ phiếu, trái phiếu)
Đối tượng áp dụng Hợp đồng tương lai chỉ số VN30, hợp đồng tương lai trái phiếu Chính phủ Cổ phiếu, chứng chỉ quỹ, trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu Chính phủ
Quy trình nghiệp vụ Phức tạp, thực hiện định giá hàng ngày (mark-to-market), theo dõi tỷ lệ ký quỹ và gọi ký quỹ bổ sung Quy trình thanh toán chuyển giao quyền sở hữu chứng khoán và thanh toán tiền đa phương
Yêu cầu ký quỹ Bắt buộc nộp ký quỹ ban đầu, duy trì ký quỹ biến đổi và ký quỹ bổ sung hàng ngày Thường không bắt buộc nộp ký quỹ hàng ngày, áp dụng thanh toán theo giao dịch
Chu kỳ thanh toán Chu kỳ T+1 (xử lý lãi/lỗ vị thế và bổ sung ký quỹ hàng ngày) Chu kỳ T+2 hoặc T+3 (theo quy định của thị trường cơ sở)
  • Quy định về chế độ báo cáo và công bố thông tin: Thực hiện phân định theo khoản 2 Điều 118 Luật Chứng khoán năm 2019, Nghị định số 158/2020/NĐ-CP lược bỏ quy định về công bố thông tin (chuyển giao cho Bộ Tài chính hướng dẫn) nhưng duy trì các chế độ báo cáo định kỳ và bất thường bắt buộc đối với Sở Giao dịch Chứng khoán, TCTLKBTCK và các thành viên.
  • Thực tiễn áp dụng và tồn tại: Khóa luận ghi nhận kết quả thị trường tăng trưởng ổn định (bình quân 27,46%/năm), tạo lập kênh phòng hộ rủi ro danh mục cho thị trường cơ sở. Tuy nhiên, tồn tại các hạn chế: sản phẩm còn nghèo nàn (chủ yếu là hợp đồng tương lai VN30, hợp đồng trái phiếu Chính phủ thanh khoản thấp); nhà đầu tư cá nhân chiếm tỷ trọng chi phối trong khi nhà đầu tư tổ chức còn hạn chế; cơ chế thuế chưa hợp lý; văn bản luật gốc (Luật Chứng khoán năm 2019) thiếu quy phạm chi tiết về phái sinh khiến thị trường phụ thuộc nhiều vào nghị định và thông tư.

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện và nâng cao thực thi pháp luật về thị trường giao dịch chứng khoán phái sinh tại Việt Nam

Trên cơ sở các tồn tại ở Chương 2, tác giả đề xuất hai nhóm định hướng giải pháp:

  • Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật: Sửa đổi, bổ sung Luật Chứng khoán năm 2019 nhằm luật hóa các nguyên tắc điều chỉnh riêng cho chứng khoán phái sinh; mở rộng khung khổ pháp lý cho phép triển khai sản phẩm mới như hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai trên cổ phiếu đơn lẻ và các sản phẩm phái sinh hàng hóa/tiền tệ theo thông lệ; hoàn thiện chính sách thuế theo hướng đánh thuế trên lợi nhuận ròng của giao dịch phái sinh thay vì đánh thuế theo giá trị chuyển nhượng danh nghĩa, bảo đảm phản ánh đúng bản chất quản trị rủi ro; tiếp tục chuẩn hóa quy chế hoạt động của cơ chế đối tác bù trừ trung tâm (CCP).
  • Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi: Nâng cấp đồng bộ hạ tầng công nghệ thông tin tại Sở Giao dịch Chứng khoán và TCTLKBTCK nhằm phục vụ việc chuyển đổi mô hình ký quỹ mới và cơ chế ngắt mạch tự động; tăng cường năng lực giám sát liên thị trường của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước để phòng ngừa hành vi thao túng giá giữa thị trường cơ sở và thị trường phái sinh; đẩy mạnh thu hút nhà đầu tư có tổ chức và định chế nước ngoài; tăng cường kiểm tra, quản trị rủi ro tại các công ty chứng khoán thành viên bù trừ và nâng cao kiến thức pháp lý cho công chúng đầu tư.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã trích xuất, phân tích và hệ thống hóa các kết quả cụ thể:

  • Ghi nhận số liệu chính thức từ Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội về tốc độ tăng trưởng quy mô giao dịch bình quân đạt 27,46%/năm sau hơn 06 năm vận hành (từ tháng 8/2017 đến thời điểm công bố nghiên cứu năm 2024);
  • Làm rõ cấu trúc phân tầng điều kiện cấp phép kinh doanh và cung cấp dịch vụ bù trừ thanh toán tại Nghị định số 158/2020/NĐ-CP: tiêu chuẩn vốn khả dụng 220% đối với công ty chứng khoán kinh doanh, 260% đối với tổ chức bù trừ thanh toán, vốn tối thiểu 25 tỷ đồng đối với công ty quản lý quỹ, 5.000 tỷ đồng đối với ngân hàng thương mại và 1.000 tỷ đồng đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
  • So sánh toàn diện giữa Nghị định số 42/2015/NĐ-CP và Nghị định số 158/2020/NĐ-CP, chỉ ra các bước hoàn thiện pháp lý: tách biệt điều kiện kinh doanh của công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ; chuẩn hóa hồ sơ cấp phép; thu hẹp phạm vi bù trừ của ngân hàng thương mại chỉ cho chính mình; bổ sung quy định vốn cấp cho chi nhánh ngân hàng nước ngoài; hoàn thiện thẩm quyền xử lý vi phạm của UBCKNN; luật hóa cơ chế ngắt mạch thị trường và chuyển đổi mô hình ký quỹ sau giao dịch;
  • Đề xuất các giải pháp lập pháp và thực thi có căn cứ từ việc đối chiếu kinh nghiệm điều hành của Hoa Kỳ (SEC, CFTC), Singapore (MAS) và Trung Quốc (Luật FDL năm 2022).

Về đóng góp khoa học, công trình đã cập nhật hệ thống văn bản pháp luật mới nhất tính đến năm 2024 (trọng tâm là Nghị định số 158/2020/NĐ-CP và Luật Chứng khoán năm 2019), bổ khuyết khoảng trống của các công trình trước đó vốn chỉ nghiên cứu dựa trên khuôn khổ Nghị định số 42/2015/NĐ-CP hoặc tiếp cận dưới giác độ thuần túy kinh tế học mà chưa phân tích chuyên sâu các quyền, nghĩa vụ và chế định pháp lý chuyên biệt.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế nhất định do tác giả tự xác định:

  • Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào khung pháp lý của thị trường giao dịch chứng khoán phái sinh tập trung (niêm yết), chưa đi sâu phân tích toàn diện cơ chế điều chỉnh đối với các hợp đồng phái sinh phi tập trung (OTC);
  • Nghiên cứu tập trung vào phân tích quy phạm pháp luật và báo cáo tổng kết ngành, chưa tiếp cận được hệ thống hồ sơ án lệ hoặc số liệu thực tế về giải quyết tranh chấp dân sự, thương mại liên quan đến chứng khoán phái sinh tại Tòa án hoặc Trọng tài thương mại;
  • Chưa có điều kiện tiến hành khảo sát xã hội học pháp luật trên diện rộng đối với nhận thức pháp lý của nhóm nhà đầu tư cá nhân trên thị trường.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng:

  • Nghiên cứu cơ chế pháp lý quản lý và giám sát thị trường chứng khoán phái sinh phi tập trung (OTC) tại Việt Nam theo kinh nghiệm mở rộng thẩm quyền quản lý của Singapore (MAS);
  • Hoàn thiện chế tài xử lý vi phạm hành chính và tội phạm thao túng giá trên thị trường phái sinh gắn với giao dịch liên thị trường cơ sở;
  • Xây dựng khung pháp lý về thuế, chế độ kế toán và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) áp dụng riêng cho các giao dịch chứng khoán phái sinh tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân hàng, cũng như sinh viên các ngành Tài chính - Chứng khoán: sử dụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên đề về pháp luật thị trường vốn và pháp luật chứng khoán phái sinh;
  • Các cán bộ pháp chế, luật sư tư vấn, chuyên viên quản trị rủi ro tại các công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại, công ty quản lý quỹ: tham khảo trực tiếp các điều kiện cấp phép, tiêu chuẩn an toàn vốn khả dụng, thủ tục đăng ký thành viên giao dịch, thành viên bù trừ và quy trình thanh toán qua CCP;
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước): cung cấp luận cứ thực tiễn và kinh nghiệm lập pháp quốc tế phục vụ công tác rà soát, sửa đổi Luật Chứng khoán và hoàn thiện các nghị định, thông tư hướng dẫn.

Phần nội dung tại Chương 2 (so sánh chi tiết Nghị định số 42/2015/NĐ-CP và Nghị định số 158/2020/NĐ-CP; các điều kiện tỷ lệ vốn khả dụng và quy trình bù trừ CCP) cùng Chương 1 (hệ thống hóa quy trình giao dịch 4 bước và kinh nghiệm quốc tế) là những hợp phần có giá trị thực tiễn và khả năng tra cứu cao nhất.

Câu hỏi thường gặp

1. Điều kiện kinh doanh chứng khoán phái sinh giữa công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ được phân định khác nhau như thế nào theo Nghị định số 158/2020/NĐ-CP? Theo khoản 2 và khoản 3 Điều 4 Nghị định số 158/2020/NĐ-CP, công ty chứng khoán được thực hiện một, một số hoặc toàn bộ hoạt động: môi giới, tự doanh và tư vấn đầu tư chứng khoán phái sinh (phải đạt tỷ lệ vốn khả dụng tối thiểu 220% liên tục trong 12 tháng, không lỗ trong 02 năm gần nhất). Ngược lại, công ty quản lý quỹ chỉ được phép thực hiện nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán phái sinh, đồng thời phải đáp ứng điều kiện vốn điều lệ/vốn chủ sở hữu từ 25 tỷ đồng trở lên và có tối thiểu 05 nhân viên có chứng chỉ chuyên môn về phái sinh.

2. Tiêu chuẩn về tỷ lệ vốn khả dụng đối với tổ chức kinh doanh và tổ chức cung cấp dịch vụ bù trừ, thanh toán chứng khoán phái sinh được quy định ở mức nào? Theo Nghị định số 158/2020/NĐ-CP, công ty chứng khoán đăng ký kinh doanh chứng khoán phái sinh phải duy trì tỷ lệ vốn khả dụng tối thiểu 220% liên tục trong 12 tháng gần nhất (Điều 4). Đối với công ty chứng khoán đăng ký cung cấp dịch vụ bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán phái sinh, tiêu chuẩn tỷ lệ vốn khả dụng nâng lên mức tối thiểu 260% liên tục trong 12 tháng gần nhất, đồng thời hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu không được vượt quá 05 lần (Điều 9).

3. Cơ chế bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán phái sinh tại Việt Nam có những điểm khác biệt căn bản nào so với chứng khoán cơ sở? Hoạt động bù trừ, thanh toán chứng khoán phái sinh được thực hiện bởi TCTLKBTCK thông qua cơ chế đối tác bù trừ trung tâm (CCP). Khác với chứng khoán cơ sở (chỉ thanh toán đa phương theo chu kỳ T+2 hoặc T+3 và không bắt buộc ký quỹ hàng ngày), thị trường phái sinh áp dụng chu kỳ T+1, bắt buộc nhà đầu tư nộp ký quỹ ban đầu trước khi mở vị thế và thực hiện định giá, bù trừ lãi/lỗ vị thế cùng nghĩa vụ nộp bổ sung ký quỹ hàng ngày (mark-to-market).

4. Thời điểm đáo hạn định kỳ của chứng khoán phái sinh tại Việt Nam được xác định ra sao và xử lý thế nào khi trùng ngày nghỉ lễ? Tại thị trường chứng khoán phái sinh Việt Nam, ngày đáo hạn phái sinh định kỳ được ấn định vào ngày Thứ Năm thứ ba trong tháng đáo hạn của hợp đồng. Trường hợp ngày đáo hạn này trùng vào ngày nghỉ lễ, tết theo quy định tại Điều 112 Bộ luật Lao động năm 2019 thì ngày giao dịch liền trước đó sẽ được tính là ngày đáo hạn chính thức.

5. Pháp luật Việt Nam quy định phạm vi cung cấp dịch vụ bù trừ, thanh toán của ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị thu hẹp như thế nào so với trước đây? Theo Nghị định số 42/2015/NĐ-CP trước đây, ngân hàng thương mại có thể đăng ký làm thành viên bù trừ chung để cung cấp dịch vụ cho các thành viên khác và khách hàng. Tuy nhiên, căn cứ khoản 3 Điều 9 Nghị định số 158/2020/NĐ-CP, ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ được thực hiện bù trừ, thanh toán giao dịch chứng khoán phái sinh cho chính tổ chức đó; đồng thời phải đáp ứng điều kiện vốn điều lệ/vốn chủ sở hữu tối thiểu từ 5.000 tỷ đồng trở lên (với ngân hàng thương mại) hoặc vốn được cấp từ 1.000 tỷ đồng trở lên (với chi nhánh ngân hàng nước ngoài).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Tạ Minh Thảo đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chứng khoán phái sinh và thị trường giao dịch chứng khoán phái sinh, gắn liền với các chuẩn mực vận hành và kinh nghiệm lập pháp quốc tế. Thông qua việc phân tích chuyên sâu các quy phạm thực định tại Nghị định số 158/2020/NĐ-CP đặt trong mối liên hệ so sánh với Nghị định số 42/2015/NĐ-CP và Luật Chứng khoán năm 2019, công trình đã làm rõ các điều kiện an toàn tài chính, tư cách thành viên và cơ chế đối tác bù trừ trung tâm (CCP). Các định hướng giải pháp được đề xuất trong khóa luận cung cấp luận cứ pháp lý xác đáng nhằm tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý, bảo đảm an toàn hệ thống và thúc đẩy thị trường chứng khoán phái sinh Việt Nam phát triển ổn định, minh bạch.