MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài TTCKVN đang đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế. Các quy luật vận động và phát triển của thị trường, đặc biệt là các hiện tượng bất thường (anomalies) trên TTCKVN thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu. Hiệu ứng ngày trong tuần là một trong số các hiện tượng bất thường đó. Hiệu ứng ngày trong tuần (day-of-the-week effect) là hiện tượng lợi suất chứng khoán thường có khuynh hướng cao hơn (hoặc thấp hơn) vào một hoặc một vài ngày nào đó trong tuần và đồng thời có khuynh hướng biến động thấp hơn (rủi ro thấp hơn) hoặc mạnh hơn (rủi ro cao hơn) vào một số ngày nhất định.
Hiệu ứng này đã được các nhà nghiên cứu tìm thấy tại nhiều TTCK trên thế giới. Một vài công trình nghiên cứu về hiệu ứng này tại TTCKVN cũng đã được công bố. Tuy nhiên số lượng các công trình nghiên cứu về hiệu ứng này tại Việt Nam chưa nhiều và các tác giả chỉ nghiên cứu hiệu ứng này chung cho cả thị trường. Trong khi đó sự biến động giá của chứng khoán thuộc các ngành khác nhau hoặc có giá trị vốn hóa thị trường (market cap) khác nhau có những khác biệt so với sự biến động chung của thị trường.
Vì vậy tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài “Hiệu ứng ngày trong tuần trên thị trường chứng khoán Việt Nam” với mục tiêu kiểm định sự tồn tại của hiệu ứng này trong giai đoạn 2/1/2009 – 4/7/2012 trên TTCKVN nói chung và đặc biệt là sự tồn tại của hiệu ứng này đối với chứng khoán thuộc các ngành khác nhau hoặc có giá trị vốn hóa thị trường (market cap) khác nhau để từ đó đề xuất một số giải pháp cho các nhà quản lý nhằm gia tăng tính hiệu quả của thị trường, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho các nhà đầu tư nhằm điều chỉnh chiến lược mua bán thích hợp.Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu về hiệu ứng này có ảnh hưởng trước hết là đến quyết định của nhà đầu tư. Nhà đầu tư nắm được quy luật thay đổi giá chứng khoán sẽ có chiến lược mua bán chứng khoán thích hợp. Thêm vào đó, sự tồn tại hiệu ứng bất thường này cũng thể hiện mức độ hiệu quả của cả thị trường chứng khoán và của 123doc 2 từng bộ phận thị trường. Việc am hiểu quy luật vận động và mức độ hiệu quả của thị trường sẽ giúp các nhà quản lý có những chính sách điều tiết thích hợp.Ý nghĩa khoa học Luận văn góp phần bổ sung thêm cho các công trình nghiên cứu trước những kết quả nghiên cứu mang tính cập nhật.
Hơn nữa, luận văn cung cấp kết quả kiểm định về sự tồn tại của hiệu ứng ngày trong tuần đối với chứng khoán thuộc các ngành khác nhau và chứng khoán có giá trị vốn hóa thị trường khác nhau.Các công trình nghiên cứu có liên quan Hiệu ứng ngày trong tuần được nghiên cứu tại thị trường Việt Nam lần đầu tiên bởi Trương Đông Lộc (2006) trong luận án tiến sĩ “Equitisation and stock market development”. Trong luận án của mình, Trương Đông Lộc đã áp dụng mô hình OLS và mô hình GARCH (1,1) để kiểm định sự tồn tại của hiệu ứng ngày trong tuần tại thị trường chứng khoán Việt Nam dựa trên chỉ số VN-Index (2002- 2004). Kết quả cho thấy, lợi suất trung bình của thị trường giảm vào thứ ba và thứ năm, nhưng không thấy ảnh hưởng của hiệu ứng đến mức độ biến động của lợi suất. Năm 2009, trong luận án tiến sĩ “Day-of-the-week effects in different stock markets: New evidence on model-dependency in testing seasonalities in stock return”, Lê Long Hậu đã kiểm định hiệu ứng ngày trong tuần trên TTCKVN bằng các mô hình OLS, GARCH, GARCH-M, TGARCH và EGARCH đối với chỉ số VN-Index (2002-2008).
Kết quả từ nhiều mô hình cho thấy tại TTCKVN, lợi suất trung bình của thị trường giảm vào thứ ba. Trong bài viết “Hiệu ứng ngày trong tuần về sự thay đổi giá của cổ phiếu trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội” đăng trên tạp chí Ngân hàng số 5 tháng 3/2010, Trương Đông Lộc đã sử dụng mô hình OLS và GARCH(1,1) đối với chuỗi số liệu HNX-Index trong thời gian 2/1/2006-31/12/2008, kết quả cho thấy giá cổ phiếu trên HNX chỉ tăng vào thứ hai. Các công trình nghiên cứu đều sử dụng phương pháp định lượng với mô hình OLS và GARCH để kiểm định sự tồn tại của hiệu ứng ngày trong tuần trên 123doc 3 TTCKVN. Dữ liệu mà các tác giả sử dụng là các chỉ số đại diện cho HOSE và HNX như VN-Index và HNX-Index.Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là kiểm định sự tồn tại của hiệu ứng ngày trong tuần trên TTCKVN giai đoạn 2/1/2009-4/7/2012 từ đó đề xuất một số giải pháp cho các nhà quản lý nhằm nâng cao tính hiệu quả của thị trường, và giải pháp cho các nhà đầu tư nhằm điều chỉnh chiến lược mua bán chứng khoán thích hợp.
Mục tiêu kiểm định sự tồn tại của hiệu ứng ngày trong tuần sẽ bao gồm ba vấn đề cụ thể Kiểm định sự tồn tại của hiệu ứng ngày trong tuần trên TTCKVN nói chung. Kiểm định sự tồn tại của hiệu ứng ngày trong tuần đối với chứng khoán thuộc các ngành khác nhau. Kiểm định sự tồn tại của hiệu ứng ngày trong tuần đối với chứng khoán có giá trị vốn hóa thị trường khác nhau. Mục tiêu đề xuất giải pháp sẽ bao gồm hai vấn đề cụ thể Giải pháp cho nhà quản lý nhằm nâng cao tính hiệu quả của thị trường.
Giải pháp cho nhà đầu tư nhằm điều chỉnh chiến lược mua bán chứng khoán thích hợp.Đối tƣợng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hiệu ứng ngày trong tuần trên TTCKVN nói chung và hiệu ứng này đối với chứng khoán thuộc các ngành khác nhau và có giá trị vốn hóa thị trường khác nhau.Phạm vi nghiên cứu Về thời gian, luận văn nghiên cứu dữ liệu trong giai đoạn 2/1/2009-4/7/2012. Năm 2009 là năm mà thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu thoát khỏi khủng hoảng. Số liệu được thu thập đến thời điểm gần nhất là 4/7/2012. 123doc 4 Về không gian, luận văn nghiên cứu các chứng khoán tại thị trường giao dịch chứng khoán tập trung là Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX).Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp định lượng với các mô hình GARCH(1,1) và Modified AR(1)-GARCH(1,1) để kiểm định sự tồn tại của hiệu ứng ngày trong tuần tại HOSE, HNX và sự tồn tại của hiệu ứng này đối với chứng khoán thuộc các ngành khác nhau và có giá trị vốn hóa thị trường khác nhau.
Để kiểm định sự tồn tại của hiệu ứng ngày trong tuần tại HOSE và HNX, luận văn sử dụng số liệu là chỉ số VN-Index và HNX-Index. Để kiểm định sự tồn tại của hiệu ứng ngày trong tuần đối với chứng khoán thuộc các ngành khác nhau, luận văn sử dụng số liệu là chỉ số ngành của công ty cổ phần nghiên cứu đầu tư Phú Toàn. Để kiểm định sự tồn tại của hiệu ứng ngày trong tuần đối với chứng khoán có giá trị vốn hóa thị trường khác nhau, luận văn sử dụng số liệu là chỉ số VS- largecap, VS-midcap, VS-smallcap, VS-microcap của công ty cổ phần Tài Việt (Vietstock). Bên cạnh đó luận văn cũng sử dụng phương pháp phân tích định tính để lý giải nguyên nhân và đề ra giải pháp cho vấn đề nghiên cứu.
123doc 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HIỆU ỨNG NGÀY TRONG TUẦN 1.1 Lý thuyết thị trƣờng hiệu quả 1.1 Giới thiệu lý thuyết thị trƣờng hiệu quả Lý thuyết thị trường hiệu quả (Efficient market hypothesis) là một lý thuyết tài chính cho rằng các thị trường tài chính là hiệu quả, rằng giá của hàng hóa trên thị trường tài chính, đặc biệt TTCK, phản ánh đầy đủ mọi thông tin đã biết. Do đó, không thể kiếm được lợi nhuận bằng cách căn cứ vào các thông tin đã biết hay những hình thái biến động của giá cả trong quá khứ. Vào năm 1970, Fama là người đầu tiên đưa ra lý thuyết thị trường hiệu quả. Theo Fama, thị trường hiệu quả là thị trường mà giá cả phản ánh đầy đủ những thông tin sẵn có.
Lý thuyết này dựa trên ba điều kiện sau: Thứ nhất, thị trường bao gồm một số lượng lớn các nhà đầu tư hành động một cách hợp lí nhằm tối đa hóa lợi nhuận, và các nhà đầu tư này sẽ định giá chứng khoán một cách hợp lí. Thứ hai, nếu một số nhà đầu tư hành động không hợp lí thì những hành động của họ sẽ triệt tiêu lẫn nhau hoặc những nhà mua bán chênh lệch sẽ triệt tiêu ảnh hưởng của các nhà đầu tư này và không làm ảnh hưởng đến giá cả. Thứ ba, người tham gia thị trường được tiếp cận hầu như cùng lúc, rộng rãi và không mất chi phí đối với tất cả các thông tin. Các nhà đầu tư phản ứng đầy đủ và tức thời với các thông tin mới và giá cả cũng được điều chỉnh theo.2 Các cấp độ của lý thuyết thị trƣờng hiệu quả Fama đã xếp thông tin thành ba nhóm: thông tin trong quá khứ, thông tin công khai, và thông tin đầy đủ bao gồm cả thông tin nội bộ.
Thị trường hiệu quả được chia thành ba dạng hay ba cấp độ dựa trên sự sẵn có của ba nhóm thông tin trên. Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng yếu 123doc 6 Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng yếu (weak form) cho rằng giá chứng khoán hiện tại phản ánh đầy đủ tất cả thông tin trong quá khứ của thị trường chứng khoán, bao gồm các chuyển dịch liên tục của giá, tỷ suất thu nhập, khối lượng giao dịch và các thông tin chung khác. Vì giả định rằng mức giá thị trường hiện tại phản ánh tất cả các thông tin trong quá khứ nên không thể dựa vào các thông tin trong quá khứ để kiếm lợi nhuận siêu ngạch. Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng yếu rất tương đồng với lý thuyết bước đi ngẫu nhiên sẽ được trình bày sau.
Như vậy, việc nghiên cứu sự thay đổi của giá cả trong quá khứ để dự báo tương lai là không thể thực hiện được. Tuy nhiên, một nhà đầu tư vẫn có thể đánh bại thị trường và kiếm được lợi nhuận siêu ngạch bằng các phân tích cơ bản và mua bán nội gián. Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng vừa Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng vừa (bán hiệu quả, semi-strong form) cho rằng bên cạnh các thông tin trong quá khứ, giá chứng khoán sẽ điều chỉnh nhanh chóng trước bất kỳ thông tin công khai nào, tức là, mức giá hiện tại phản ánh đầy đủ mọi thông tin công khai.