Chương 1: Giới thiệu đề tài. Trong chương này tác giả trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu, các câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và bố cục của đề tài. Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây, ở chương này, tác giả trưng ra các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về tác động của kiệt quệ tài chính đến hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp của các doanh nghiệp. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, ở chương này, tác giả trình bày mẫu dữ liệu, mô tả các biến trong mô hình, phương pháp ước lượng, mô hình hồi quy.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận, ở chương này, tác giả sẽ trình bày các kết quả của nghiên cứu bao gồm thống kê mô tả các biến, phương trình các hệ số hồi quy, thực hiện các kiểm định tính vững của mô hình, và thảo luận các kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận, ở chương này, tác giả trình bày tổng quát lại kết quả, các hạn chế của bài nghiên cứu, đồng thời đưa ra hướng phát triển cho đề tài trong tương lai. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Các quan điểm về kiệt quệ tài chính Theo lý thuyết kinh tế phổ biến, kiệt quệ tài chính là trạng thái mà doanh nghiệp không thể đáp ứng hoặc có đáp ứng nhưng đáp ứng một cách khó khăn các nghĩa vụ tài chính của mình đối với các chủ nợ. Tuy nhiên, quan điểm này lại có sự thay đổi qua các nghiên cứu khác nhau trên thế giới.
Điều này nguyên do là vì xuất phát từ việc lựa chọn mẫu, và cách xác định các yếu tố tác động gây nên tình trạng kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp. Chính vì vậy, cần thiết phải làm rõ các quan điểm về kiệt quệ tài chính để có cái nhìn đầy đủ nhất về kiệt quệ tài chính. Altman và Hotckis (2006) cho rằng, để xác định thành công hay thất bại của một doanh nghiệp có thể căn cứ vào 4 dấu hiệu là: “thất bại” (failure), “mất thanh khoản” (insolvency), “vỡ nợ” (default), và “phá sản” (bankruptcy). Thất bại (Failure): Altman và Hotchkiss (2006) cho rằng, một doanh nghiệp được xem là thất bại khi tỷ suất sinh lợi thực tế trên vốn đầu tư, cùng với các tỷ số khác dùng để đánh giá rủi ro của doanh nghiệp liên tục thấp hơn so với các mức đầu tư kỳ vọng tương đương trên thị trường, hoặc doanh thu không bù đắp đủ chi phí của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, mặc dù doanh nghiệp có doanh thu nhưng chưa đủ để bù đắp cho những khoản chi phí hoặc tỷ suất sinh lợi thực trên vốn đầu tư thấp hơn so với tỷ số của các đầu tư tương đương trên thị trường thì cũng chưa chắc được xem là thất bại vì trên thực tế doanh nghiệp trong tình huống này cũng có thể tiếp tục hoạt động kinh doanh nếu các nhà đầu tư đồng ý chấp nhận mức tỷ suất sinh lợi thấp. Vì vậy, rất khó để kiểm định việc một doanh nghiệp đối mặt với tình huống ở trên như là một doanh nghiệp bị kiệt quệ tài chính. Bên cạnh đó, một doanh nghiệp được xem là thất bại khi dòng tiền của doanh nghiệp không đủ để doanh nghiệp thực hiện được các nghĩa vụ tài chính theo hợp đồng với các chủ nợ, với người lao động, hoặc việc doanh nghiệp phải gánh chịu tổn thất từ quá trình pháp lý diễn ra dai dẳng (Wruck, 1990). Thất bại của doanh nghiệp được chia làm hai loại, đó là thất bại kinh tế (Economic Failure) và thất bại 6 tài chính (Financial Failure).
Theo Andrade và Kaplan (1998), một doanh nghiệp được xem là thất bại về tài chính là khi doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ trả lãi vay và nợ gốc cho chủ nợ, còn thất bại kinh tế là khi doanh nghiệp bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh. Ở một quan điểm phổ biến khác, thất bại tài chính được định nghĩa là việc doanh nghiệp bất lực trong việc hoàn thành các nghĩa vụ nợ. Tuy nhiên, một doanh nghiệp không đủ khả năng thanh toán các khoản nợ cũng có thể xảy ra ngay cả khi doanh nghiệp có giá trị tài sản ròng dương (Gauhan, 2011). Như vậy, có thể hiểu rằng ngoài tình trạng bất lực của doanh nghiệp trong việc trả nợ, thì tình trạng khó khăn của doanh nghiệp trong việc thanh toán các khoản nợ cũng được xem là thất bại tài chính.
Cuối cùng, cần xác định rằng thất bại tài chính không đồng nghĩa với phá sản hay giải thể. Bởi vì, tất cả các doanh nghiệp khi gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh đều phải trải qua thất bại tài chính và thất bại kinh tế, nhưng chỉ có một số các doanh nghiệp trong số đó đi đến phá sản hay giải thể, chứ không phải là tất cả. Mất thanh khoản (Insolvency): là một dạng khác của thất bại hoạt động kinh doanh và kiệt quệ tài chính. Một doanh nghiệp mất thanh khoản có thể được định nghĩa là doanh nghiệp không đủ khả năng để hoàn thành các nghĩa vụ tài chính bao gồm tất cả các khoản nợ đối với người lao động, nhà cung cấp, chủ nợ (Shrader và Hickman, 1993).
Định nghĩa trên giống với định nghĩa thất bại tài chính của Whitaker (1999) và Wruck (1990). Trong thực tế, Wruck (1990) nhấn mạnh rằng, mặc dù doanh nghiệp mất thanh khoản là khác biệt so với thất bại tài chính, nhưng hai khái niệm này vẫn được sử dụng thay thế cho nhau. Wruck (1990), Ross và cộng sự (2003) chia nguyên nhân mất thanh khoản thành 2 dạng: mất thanh khoản do giá trị và mất thanh khoản do dòng tiền. + Mất thanh khoản do giá trị là việc mất khả năng thanh khoản xảy ra khi giá trị thị trường các tài sản của doanh nghiệp thấp hơn so với giá trị các khoản nợ, theo đó, trường hợp này còn được hiểu là giá trị kinh tế ròng âm.
7 + Ngoài ra, kiệt quệ tài chính cũng có thể bắt nguồn từ mất khả năng chi trả dựa trên dòng tiền; có nghĩa là, doanh nghiệp không thể tạo ra đủ dòng tiền để đảm bảo các nghĩa vụ tài chính hiện tại. Trường hợp này còn gọi là mất thanh khoản kỹ thuật. Gilson và cộng sự, (1990), Altman và Hotchkiss (2006) phân loại vỡ nợ thành hai loại là vỡ nợ kỹ thuật và vỡ nợ thanh toán. Vỡ nợ thanh toán xảy ra khi doanh nghiệp không thể trả được nợ gốc và lãi đến hạn.
Trong khi, vỡ nợ kỹ thuật xảy ra khi doanh nghiệp vi phạm các điều khoản trong hợp đồng tín dụng. Phá sản (Bankrupcy): phá sản là việc doanh nghiệp đệ đơn phá sản chính thức lên tòa án và được tòa án phê duyệt cho phép doanh nghiệp thực hiện phá sản. Lúc này doanh nghiệp sẽ có ba hướng: thứ nhất, doanh nghiệp có thể phát hành thêm nguồn vốn cổ phần mới; thứ hai, thực hiện tái cấu trúc bằng các thỏa thuận về các khoản nợ với các chủ nợ nhằm kéo dài thời hạn thanh toán hoặc đàm phán về các khoản lãi suất; thứ ba, là doanh nghiệp có thể sáp nhập với các doanh nghiệp khác. Dựa trên các quan điểm trên, có thể kết luận rằng, kiệt quệ tài chính là tình trạng xảy ra khi doanh nghiệp không thể đáp ứng hoặc có đáp ứng nhưng đáp ứng một cách khó khăn các nghĩa vụ tài chính theo hợp đồng đối với các chủ nợ – Trường hợp này gọi là thất bại tài chính; hoặc kiệt quệ tài chính là tình trạng xảy ra khi doanh nghiệp có doanh thu không đủ bù đắp chi phí hoặc tỷ suất sinh lợi thực tế trên vốn đầu tư thấp hơn liên tục và đáng kể so với các tỷ số đầu tư tương đương trên thị trường – Trường hợp này gọi là thất bại kinh tế; hoặc kiệt quệ tài chính là tình trạng xảy ra khi doanh nghiệp không tạo ra đủ dòng tiền ròng để đảm bảo các nghĩa vụ tài chính hiện tại – Trường hợp này gọi là mất thanh khoản kỹ thuật; hoặc kiệt quệ tài chính là tình trạng xảy ra khi giá trị thị trường của các tài sản của doanh nghiệp thấp hơn so với giá trị các khoản nợ – Trường hợp này gọi là mất thanh 8 khoản do giá trị; hoặc kiệt quệ tài chính là tình trạng xảy ra khi doanh nghiệp không thể trả được các khoản nợ gốc hay lãi vay đối với các chủ nợ khi chúng đến hạn – Trường hợp này gọi là vỡ nợ.
Tổng hợp tất cả quan điểm trên về kiệt quệ tài chính, Aktan (2011) đã đưa ra quan điểm cho thấy, một doanh nghiệp được xem là kiệt quệ tài chính khi xảy ra tình trạng thua lỗ 3 năm liên tiếp, hoặc có vốn chủ sở hữu âm, hoặc doanh nghiệp phải bán hết tài sản để trả nợ và lãi vay rồi giải thể, hoặc được tòa án chấp thuận phá sản. Nghiên cứu này sẽ dựa trên quan điểm Aktan (2011) để xác định một doanh nghiệp là kiệt quệ tài chính khi lựa chọn mẫu nghiên cứu.2 Kiệt quệ tài chính và hành vi tránh thuế thu nhập doanh nghiệp Theo Myers (1984), khi doanh nghiệp phải đối mặt với kiệt quệ tài chính, các doanh nghiệp sẽ cần phải có lượng tiền mặt đủ để chi trả cho những khoản chi phí hoạt động của doanh nghiệp, từ đó, các nhà quản lý doanh nghiệp sẽ xem nguồn tiền từ thuế thu nhập doanh nghiệp là lựa chọn tốt nhất tại thời điểm đó. Koch (2000) trưng ra bằng chứng cho thấy, có tồn tại mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính và mức độ tin cậy của những dự báo về mức doanh thu đạt được bởi ban quản trị doanh nghiệp. Dự báo doanh thu của doanh nghiệp có vấn đề ở những doanh nghiệp bị kiệt quệ tài chính cho thấy, kết quả ít tin cậy hơn so với những dự đoán tương tự được thực hiện bởi những doanh nghiệp không xảy ra kiệt quệ tài chính.
Phillips và cộng sự (2003) cho rằng, ban giám đốc doanh nghiệp muốn đảm bảo doanh thu như mục tiêu đã đề ra bằng cách trì hoãn khoản thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp nhằm mục đích tránh sự sụt giảm trong doanh thu. Brondolo (2009) cho rằng, các khoản thuế có thể giúp doanh nghiệp tài trợ cho các hoạt động ngắn hạn của doanh nghiệp, nhằm duy trì đánh giá mức xếp hạng tín dụng, giữ nguyên các thỏa thuận trong hợp đồng vay hoặc thậm chí có thể làm giảm rủi ro phá sản của doanh nghiệp. Ayers, Laplante, và McGuire (2010) cho rằng, với sự thay đổi giữa thu nhập chịu 9 thuế và thu nhập kế toán đưa ra tín hiệu thông tin tiêu cực với cơ quan xếp hạng tín dụng.