Chương 1: Tổng quan về lãi suất và lạm phát Chương 2: Kiểm định mối quan hệ giữa lãi suất cơ bản và la ̣m phát tại Việt Nam trong giai đoạn 2004-2012 Chương 3: Một số giải pháp về lạm phát và lãi suất tại Việt Nam. -1- CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ LÃI SUẤT VÀ LẠM PHÁT 1.1 Khái niệm và cơ chế hình thành lãi suất 1.1 Khái niệm về lãi suất Nền kinh tế của bất kỳ một quốc gia nào cũng luôn tồn tại những chủ thể tạm thời dƣ thừa vốn, và những chủ thể có cơ hội đầu tƣ sinh lợi, cần vốn song lại thiếu vốn. Thị trƣờng tài chính ra đời làm thông suốt quá trình luân chuyển vốn từ ngƣời thừa vốn sang ngƣời cần vốn. Thông qua quan hệ vay mƣợn tín dụng hoặc mua bán các công cụ nợ cả hai chủ thể đều đạt đƣợc mục đích của mình: Ngƣời thừa vốn vừa bảo đảm đƣợc vốn vừa thu đƣợc lợi, ngƣời thiếu vốn thỉ đƣợc đáp ứng đủ cho đầu tƣ.
Từ thị trƣờng đó, lãi suất đƣợc hình thành nhƣ giá cả của một loại hàng hoá (ở đây là vốn). Lãi suất đƣợc xem là chi phí mà ngƣời đi vay phải trả cho ngƣời cho vay để đƣợc quyền sử dụng vốn. Nó vận động tuân theo quy luật cung cầu thị trƣờng và đƣợc xác định trên cơ sở cân bằng giữa đƣờng cung và cầu về vốn. Trong nền kinh tế thị trƣờng, lãi suất là một trong những biến số đƣợc theo dõi một cách chặt chẽ nhất bởi nó có mối quan hệ mật thiết đối với lợi ích kinh tế của từng đối tƣợng trong xã hội.
Lãi suất sẽ tác động đến quyết định của mỗi cá nhân trong việc đƣa ra quyết định chi tiêu hay tiết kiệm để đầu tƣ. Sự biến động của lãi suất sẽ dẫn tới sự thay đổi trong quyết định của mỗi doanh nghiệp: vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh hay cho vay để hƣởng lãi suất. Thông qua những quyết định của cá nhân, doanh nghiệp lãi suất ảnh hƣởng đến mức độ phát triển và cơ cấu của nền kinh tế đất nƣớc. Từ trƣớc đến nay đã có rất nhiều quan điểm về lãi suất.
Khi nói về nguồn gốc và bản chất của lãi suất trong nền kinh tế hàng hoá Tƣ bản chủ nghĩa (TBCN) Karl Marx (1818-1883) đã khẳng định: “Lãi suất là phần giá trị thặng dư được tạo ra do kết quả bóc lột lao động làm thuê bị tư bản và chủ ngân hàng chiếm đoạt”.Keynes (1833-1946), nhà kinh tế học nổi tiếng ngƣời Anh cho rằng: “Lãi suất chính là sự trả công cho số tiền vay, là phần thưởng cho sở thích chi tiêu tư bản”.Friedman (1912-2006), đại diện tiêu biểu cho trƣờng phái trọng tiền hiện đại cũng có quan điểm tƣơng tự nhƣ J.Keynes khi cho rằng lãi suất là kết quả của hoạt động tiền tệ. Trong đời sống hàng ngày, chúng ta cũng gặp rất nhiều loại lãi suất khác nhau nhƣ lãi suất các chứng khoán, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất danh nghĩa-lãi suất thực, lãi suất trần- sàn. Sự phân biệt các loại lãi suất này dựa trên sự liên quan đến vai trò công cụ của chính sách tiền tệ, chỉ số lạm phát hoặc kỳ hạn và rủi ro của mỗi loại chứng khoán. Tuy nhiên một điều quan trọng là hầu hết các loại lãi suất này đều diễn biến theo nhau.
Vì vậy, ta có thể đƣa ra một khái niệm chung cho lãi suất “Lãi suất là giá của quyền sử dụng vốn vay trong một khoảng thời gian nhất định mà người sử dụng phải trả cho người cho vay. Hay nói cách khác là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định.2 Cơ chế hình thành lãi suất Từ những khái niệm về lãi suất, ta có thể mô hình hoá những yếu tố tham gia vào việc hình thành nên lãi suất trong nền kinh tế nhƣ mô hình bên dƣới: Dựa vào mô hình chúng ta thấy có hai nhóm nhân tố tham gia vào việc xác định lãi suất.1 Những nhân tố thuô ̣c về thị trƣờng Thành phần thuộc nhóm này gồm : * Ngƣời cho vay : những ngƣời dƣ thừa vốn. * Ngƣời đi vay: những ngƣời cần vốn để kinh doanh, tiêu dùng. * Các Ngân hàng thƣơng mại (NHTM) và tổ chức tài chính trung gian: những chủ thể tham gia vào thị trƣờng tài chính, hoạt động tín dụng, huy động vốn để cho -3- vay nhằm mục đích kinh doanh thu lợi nhuận.
Họ có những vai trò,vị trí, lợi thế mà tài chính trực tiếp không có đƣợc. NHTW Lãi suất cơ bản Lãi suất chiết khấu/ lãi suất tái cấp vốn NHTM Lãi suất huy động Lãi suất cho vay Ngƣời cho Ngƣời Đi vay Vay Những thành phần này tham gia vào việc xác dịnh lãi suất tuân theo theo quy luật thị trƣờng. Khi nhu cầu về vốn đƣợc đáp ứng bằng cung về vốn ở mức toàn dụng vốn thì lãi suất cân bằng đƣợc hình thành. Những biến động của các biến số kinh tế vĩ mô sẽ ảnh hƣởng đến hành vi của các thành phần này, thay đổi cung cầu về vốn và lãi suất cân bằng đƣợc điều chỉnh cho phù hợp.
Cầu về vốn Lãi suất Cung về vốn Lãi suất cân bằng (i0) Vốn Biểu đồ 1.1: Lãi suất cân bằng trên thị trƣờng -4- 1.2 Những nhân tố thuộc chính sách tiền tệ : Thành phần: Duy nhất là Ngân hàng trung ƣơng (NHTW). Đây là cơ quan ngang bộ của Chính phủ có nhiệm vụ phát hành tiền, quản lý hành chính hệ thống ngân hàng, đóng vai trò ngƣời cho vay cuối cùng, xây dựng chính sách tiền tệ. Nó tác động đến lãi suất bằng các công cụ mang tính quyền lực nhà nƣớc hoặc các công cụ mang tính thị trƣờng. NHTW sử dụng công cụ lãi suất để tác động vào lƣợng tiền cung ứng và các biến số kinh tế vĩ mô khác nhằm đạt đƣợc các mục tiêu của chính sách tiền tệ: ổn định tiền tệ, tạo việc làm, tăng trƣởng kinh tế.
Cách sử dụng công cụ lãi suất phụ thuộc vào chính sách điều hành lãi suất của NHTW ở mỗi giai đoạn khác nhau của nền kinh tế. Việc xây dựng chính sách lãi suất đúng đắn nhằm hƣớng dẫn phân bổ hợp lí nguồn vốn; huy động đƣợc tất cả các nguồn lực tiềm năng trong nền kinh tế; kích thích đầu tƣ, chính sách tỷ giá phù hợp tạo thuận lợi cho hoạt động ngoại thƣơng là một yêu cầu bức thiết luôn đƣợc đặt ra cho mỗi quốc gia cũng nhƣ các nhà hoạch định chính sách. Các học thuyết nghiên cứu về cơ chế điều hành lãi suất đã chỉ ra rằng: NHTW có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tác động lên lãi suất thông qua hệ thống NHTM. a) Cơ chế tác động trực tiếp: NHTW sử dụng lãi suất với vai trò là một công cụ trực tiếp của chính sách tiền tệ.
NHTW bằng hành động mang tính chủ quan áp đặt một khung lãi suất, chênh lệch lãi suất tiền gửi- tiền vay hoặc trần- sàn lãi suất và buộc các tổ chức tín dụng (TCTD) phải tuân theo. b) Cơ chế tác động gián tiếp: NHTW sử dụng công cụ gián tiếp mang tính thị trƣờng của chính sách tiền tệ để tác động đến lãi suất thông qua hành vi của hệ thống ngân hàng. Các công cụ đó là: Dự trữ bắt buộc: dự trữ bắt buộc là công cụ của chính sách tiền tệ. Các NHTM đƣợc yêu cầu phải giữ lại một tỉ lệ phần trăm các khoản tiền gửi của họ dƣới -5- dạng dự trữ hoặc là bằng tiền mặt tại quỹ hoặc là bằng tiền gửi tại quỹ dự trữ của NHTW.
Sự thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc có tác động mạnh mẽ lên khả năng cho vay của các tổ chức tín dụng và cho cả hệ thống tài chính. Khi NHTW muốn kiềm chế lạm phát, họ có thể nâng tỉ lệ dự trữ bắt buộc, hạn chế khả năng mở rộng tín dụng của các TCTD và buộc các NHTM phải nâng lãi suất cho vay. Ngƣợc lại, khi NHTW muốn đẩy mạnh tăng trƣởng, họ giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc. Do đó các TCTD có thể mở rộng tín dụng và hạ lãi suất cho vay.
Lãi suất tái chiết khấu: Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất NHTW cho các TCTD vay trên cơ sở những chứng từ có giá của NHTM. Đây là lãi suất phạt đối với NHTM khi thiếu hụt khả năng thanh toán. NHTW thông qua lãi suất tái chiết khấu tác động vào lãi suất thị trƣờng. Việc NHTW nâng lãi suất tái chiết khấu buộc các NHTM phải tăng dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán.
Đồng thời NHTM cũng phải tăng lãi suất cho vay để bù đắp những chi phí cho những khoản tăng thêm dự trữ. Vì vậy, lãi suất thị trƣờng tăng lên. Ngƣợc lại, việc giảm lãi suất tái chiết khấu của NHTW cho phép các NHTM giảm dự trữ và hạ lãi suất cho vay. Do đó, lãi suất thị trƣờng giảm.
Nghiệp vụ thị trường mở: nghiệp vụ thị trƣờng mở là nghiệp vụ mua bán chứng khoán (thƣờng là chứng khoán nhà nƣớc) trên thị trƣờng tiền tệ ngắn hạn. NHTW muốn đẩy mạnh tăng trƣởng, mở rộng tín dụng bằng cách mua vào các chứng khoán có giá làm cho cung về tiền tệ tăng lên, dẫn tới làm giảm lãi suất. Ngƣợc lại, khi NHTW muốn thu hẹp tín dụng bằng cách bán ra các chứng khoán có giá làm cho cung tiền tệ giảm xuống dẫn tới tăng lãi suất trên thị trƣờng tiền tệ. Hợp đồng mua lại: hợp đồng mua lại là hợp đồng bán những chứng khoán, trong đó ngƣời bán cam kết sẽ mua lại chứng khoán này vào một thời điểm trong tƣơng lai với mức giá đƣợc xác định trƣớc trong hợp đồng.
Nhƣ vậy, thực chất -6- hợp đồng mua lại là hợp đồng cho vay có thế chấp trong đó chứng khoán đóng vai trò thế chấp. Khi mua thế chấp (tức cho vay), NHTW bơm tiền vào thị trƣờng tài chính và do vậy làm giảm lãi suất ngắn hạn. Khi bán thế chấp từ tài khoản của mình, NHTW rút tiền ra khỏi thị trƣờng tiền tệ và do đó tạo ra sức ép làm tăng lãi suất ngắn hạn.3 Các yếu tố tác động đến lãi suất 1.1 Mức cung cầu tiền tệ Cung tiền tệ: là tổng thể tiền tệ đƣợc sử dụng để giao dịch thanh toán trên thị trƣờng. Có thể khái quát hoá như sau: M: Money Supply: Cung tiền M1 = Tiền trong lƣu thông (C) và tiền gửi không kỳ hạn M2 = M1 + tiền gửi có kỳ hạn Tổng quát: M = C + D với D: tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn trong ngân hàng.