chương 1 giúp cho người đọc có cái nhìn bao quát về luận án. Đầu tiên, tác giả đưa ra lý do chọn đề tài bằng việc đưa ra những dẫn chứng cũng như lập luận cho thấy sự cần thiết của việc nghiên cứu khả năng áp dụng chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu ở Việt Nam tại thời điểm hiện nay. Tiếp đến, tác giả xác định mục tiêu của nghiên cứu. Từ đó, câu hỏi nghiên cứu được thiết lập cùng phương pháp nghiên cứu thích hợp để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu.
Sau đó, bố cục của luận án được trình bày cùng tóm tắt những nội dung chính trong từng chương. Và cuối cùng là những đóng góp và phát hiện mới của luận án trong việc nghiên cứu áp dụng chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu ở Việt Nam. 9 luan an CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ LẠM PHÁT MỤC TIÊU 2.
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 2. Khái niệm Các nhà khoa học cũng đưa ra những góc nhìn khác nhau về chính sách tiền tệ. Johnson (1973) cho rằng chính sách tiền tệ là chính sách của ngân hàng trung ương nhằm kiểm soát lượng cung tiền như một công cụ để đạt được những mục tiêu của chính sách kinh tế chung. Mishkin (2011) lại cho rằng chính sách tiền tệ là quá trình quản lý cung tiền của ngân hàng trung ương nhằm hướng tới một mức lãi suất để có thể đạt được những mục tiêu của chính sách tiền tệ như kiềm chế lạm phát, ổn định tỷ giá, đạt được toàn dụng lao động hay tăng trưởng kinh tế.
Ở Việt Nam, Nguyễn Văn Tiến (2009) định nghĩa chính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô, thông qua các công cụ của mình, ngân hàng trung ương chủ động thay đổi cung ứng tiền hoặc lãi suất (lãi suất liên ngân hàng mục tiêu) nhằm đạt được được các mục tiêu kinh tế - xã hội đặt ra. Theo luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 của Việt Nam định nghĩa về chính sách tiền tệ như sau: ‘Chính sách tiền tệ quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các cộng cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra.’ Với định nghĩa như vậy, chính sách tiền tệ phải là chính sách ở cấp độ vĩ mô mang tính quốc gia, là bộ phận cấu thành trong hệ thống chính sách kinh tế tài chính của quốc gia. Có 2 loại chính sách tiền tệ ngân hàng trung ương có thể thực thi: Chính sách tiền tệ nới lỏng và chính sách tiền tệ thắt chặt. Với chính sách tiền tệ nới lỏng, ngân hàng trung ương cung ứng thêm tiền cho nền kinh tế, nhằm khuyến khích đầu tư, sản xuất, và tạo công ăn việc làm.
Còn đối với chính sách tiền tệ thắt chặt, ngân hàng trung ương giảm cung ứng tiền cho nền kinh tế nhằm hạn chế đầu tư ngăn chặn sự phát triển quá nhanh của nền kinh tế nhằm kiểm soát lạm phát. 10 luan an Như vậy, dù theo cách hiểu của những nhà hoạch định chính sách hay những nhà khoa học thì chính sách tiền tệ có thể được xem là công cụ quản lý kinh tế vĩ mô do ngân hàng trung ương thực hiện thông qua các công cụ, các biện pháp nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội của một quốc gia. Hệ thống mục tiêu chính sách tiền tệ 2. Mục tiêu cuối cùng Mỗi quốc gia có thể đặt ra rất nhiều mục tiêu cho nền kinh tế như tăng trưởng kinh tế cao, toàn dụng việc lạm, lạm phát thấp, tăng trưởng xuất khẩu…Tùy đặc điểm kinh tế mà mỗi quốc gia sẽ có chính sách tiền tệ riêng của mình.
Tuy nhiên, theo Mishkin và Eakins (2006), mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ thường hướng đến những mục tiêu chính: ổn định giá cả, tăng mức nhân dụng, tăng trường kinh tế. Ngoài ra, chính sách tiền tệ còn hướng đến ổn định lãi suất, ổn định tỷ giá và ổn định thị trường tài chính. • Mục tiêu ổn định giá cả: Đối với rất nhiều ngân hàng trung ương trên thế giới, ổn định giá cả hay kiểm soát lạm phát có thể được xem là mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ bởi lạm phát cao có thể gây ảnh hưởng xấu tới toàn bộ nền kinh tế vĩ mô. Trong khi đó, nếu lạm phát thấp và ổn định sẽ giúp cho các hộ gia đình và các doanh nghiệp dễ dàng đưa ra các quyết định đầu tư trong một môi trường kinh tế vĩ mô ổn định.
Sự lên xuống thất thường của giá cả sẽ tạo ra tâm lý bất an cũng như sự thiếu tin tưởng đối với các chính sách vĩ mô của nhà nước. Giá cả liên tục tăng cao đồng nghĩa với việc giá trị thực của những tài sản người dân đang nắm giữ bị giảm đi đáng kể nếu như không có biện pháp kiểm soát lạm phát tốt. Nếu như lạm phát luôn được duy trì ở một tỷ lệ thấp ổn định sẽ rất có lợi cho các hộ gia đình và các doanh nghiệp tính toán và cân nhắc có nên đầu tư hay không. Lúc này, lạm phát đã nằm trong vòng kiểm soát của nhà nước, nên mọi người có thể an tâm thực hiện các quyết định tiêu dùng, đầu tư, tiêu xài của mình mà không lo sợ ảnh hưởng xấu của lạm phát.
11 luan an Lạm phát không hẳn lúc nào cũng là xấu, thậm chí nó còn là “liều thuốc bổ” cho nền kinh tế, kích thích nền kinh tế phát triển nếu như ngân hàng trung ương có thể tính toán đưa ra một lượng tiền vừa đủ đối với nền kinh tế. Bằng con đường đưa tiền ra nền kinh tế thông qua con đường tín dụng, ngân hàng trung ương đã giúp các doanh nghiệp mở rộng đầu tư cả về chiều rộng và chiều sâu, từ đó tạo thêm nhiều công ăn việc làm, giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp và kinh tế tăng trưởng. Không những trong trường hợp lạm phát cao mà trong trường hợp thiểu phát cũng sẽ ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế. Lúc đó, sản xuất đình đốn, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao sẽ đi liền với nhiều tệ nạn xã hội như rượu chè, trộm cắp, đói kém.
Chính vì vậy, nhiệm vụ quan trọng của ngân hàng trung ương là ổn định giá cả hay kiểm soát lạm phát ở mức thấp và ổn định tạo tiền đề cho nền kinh tế phát triển. • Mục tiêu tăng trưởng kinh tế: Để giúp nền kinh tế tăng trưởng, ngân hàng trung ương sẽ thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng. Lúc này, lượng tiền NHTW cung ứng cho nền kinh tế tăng lên, lãi suất giảm, khuyến khích các chủ doanh nghiệp đầu tư, mở rộng sản xuất, dẫn đến tổng sản phẩm xã hội tăng lên. Đồng thời, gia tăng cung tiền cũng làm gia tăng tiêu dùng trong nền kinh tế, doanh nghiệp sẽ bán được nhiều hàng hóa, đòi hỏi đầu tư thêm nhiều nhân công, máy móc, nguyên vật liệu.
Như vậy, nhờ chính sách nới lỏng tiền tệ, nền kinh tế được kích thích phát triển. Nếu kinh tế tăng trưởng quá nóng thường dẫn tới lạm phát cao, và nền kinh tế suy thoái thường kéo theo thiểu phát. Tình trạng lạm phát cao và thiểu phát cao đều không có lợi cho nền kinh tế. Do đó, vai trò của ngân hàng trung ương rất quan trọng trong việc điều tiết lượng tiền cung ứng lưu thông ở mức vừa phải đủ để nền kinh tế hấp thụ và phát triển ổn định.
• Mục tiêu tăng mức nhân dụng: Tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động là mục tiêu cuối cùng của nhiều chính sách vĩ mô trong đó có chính sách tiền tệ. Mục tiêu này rất quan trọng bởi thất nghiệp cao sẽ ảnh hưởng xấu đến kinh tế xã hội. Thất nghiệp là nguyên 12 luan an nhân của nghèo đói, các tệ nạn xã hội. Ngoài ra, nếu một nền kinh tế không thể tận dụng được hết tất cả nguồn lực lao động thì nó có thể làm giảm GDP quốc gia đó.
Tạo ra nhiều việc làm để những người trong độ tuổi lao động có việc làm là điều cần thiết đối với mọi quốc gia. Tuy nhiên, tại một thời điểm nào đó, trong nền kinh tế luôn tồn tại một tỷ lệ thất nghiệp nhất định bởi luôn tồn tại 2 dạng thất nghiệp: thất nghiệp tạm thời (frictional unemployment) và thất nghiệp cơ cấu (structural unemployment). Trên thị trường lao động, không phải lúc nào người lao động và người sử dụng lao động có thể gặp nhau, do đó, những người đang tìm việc được xem là thất nghiệp tạm thời. Hoặc có những người đi làm nhưng sau đó, muốn nâng cao trình độ chuyên môn nên xin nghỉ việc để đi học tiếp.
Những người này sau khi trở lại thị trường lao động cũng mất một thời gian để tìm việc. Quãng thời gian này cũng được xem như người lao động đang thất nghiệp tạm thời. Đối với trường hợp thất nghiệp cơ cấu, đó là những người lao động không đáp ứng được những yêu cầu về chuyên môn và kỹ năng mà công việc yêu cầu. Như vậy, việc làm không cao không có nghĩa là tỷ lệ thất nghiệp bằng không, mà nó luôn tồn tại một tỷ lệ thất nghiệp lớn hơn không, tại đó cung và cầu lao động không gặp nhau.
Tỷ lệ thất nghiệp đó được gọi là tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Có một mối quan hệ tác động qua lại giữa các mục tiêu tăng trưởng kinh tế, lạm phát và thất nghiệp. Lạm phát cao có thể kích thích kinh tế phát triển, tuy nhiên, nếu kinh tế phát triển quá nóng có thể dẫn đến khủng hoảng trong tương lai. Sau đó, nền kinh tế có thể bị trì trệ, dẫn đến thất nghiệp cao.
Ngược lại, nếu như lạm phát được giữ ở mức thấp thì các hoạt động sản xuất, thương mại trong nền kinh tế có thể bị đình đốn. Hậu quả là nền kinh tế lâm vào tình trạng tăng trưởng kém và thất nghiệp cao. Do đó, yêu cầu đặt ra đối với các nhà hoạch định chính sách là làm sao duy trì lạm phát ở mức độ vừa phải để nền kinh tế phát triển và tạo ra nhiều việc làm. 13 luan an • Mục tiêu ổn định tỷ giá hối đoái: Trong nền kinh tế mở và xu hướng toàn cấu hóa như hiện nay, sự biến động của tỷ giá hối đoái sẽ ảnh hưởng tới hoạt động của nền kinh tế, đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu.