Tổng quan luận án

Chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu (Inflation Targeting - IT) là khuôn khổ điều hành được nhiều ngân hàng trung ương trên thế giới lựa chọn kể từ đầu thập niên 1990. Tại Việt Nam, chủ trương chuyển đổi sang cơ chế lạm phát mục tiêu đã được định hướng trong các văn bản chiến lược của Chính phủ, tiêu biểu là Đề án phát triển ngành ngân hàng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 theo Quyết định số 112/2006/QĐ-TTg ngày 24/5/2006, tiếp đó là Chiến lược phát triển ngành ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 theo Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018. Mặc dù vậy, đến mốc thời gian dự kiến, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vẫn chưa thể chính thức áp dụng cơ chế này.

Theo khung phân tích của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) do Debelle và cộng sự xác lập, một quốc gia khi chuyển đổi sang khuôn khổ lạm phát mục tiêu cần đáp ứng hai điều kiện tiên quyết:

  1. Ngân hàng trung ương có tính độc lập trong việc điều hành chính sách tiền tệ, tối thiểu là sự độc lập về công cụ và không bị áp chế tài chính (fiscal dominance).
  2. Ngân hàng trung ương ưu tiên tập trung vào mục tiêu duy nhất hoặc quan trọng nhất là kiểm soát lạm phát, thay vì theo đuổi đồng thời nhiều mục tiêu mâu thuẫn như ổn định tỷ giá, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và bảo đảm việc làm.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực tế: các công trình trước đây tại Việt Nam chứng minh thâm hụt ngân sách không phải nguyên nhân gây lạm phát (loại trừ áp chế tài chính), nhưng chưa làm rõ bản chất mối quan hệ giữa công cụ lãi suất chính sách với lạm phát, cũng như chưa định lượng mức độ đánh đổi giữa kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá trong điều hành thực tế.

Mục tiêu chung của luận án là đánh giá khả năng áp dụng chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu ở Việt Nam dựa trên việc kiểm định mức độ đáp ứng hai điều kiện tiền đề nêu trên.

Mục tiêu cụ thể của luận án gồm:

  • Mục tiêu nghiên cứu thứ nhất: Kiểm định mối quan hệ giữa công cụ chính sách tiền tệ (cụ thể là công cụ lãi suất chính sách) và lạm phát tại Việt Nam.
  • Mục tiêu nghiên cứu thứ hai: Xác định mục tiêu ưu tiên trong điều hành công cụ lãi suất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam là ổn định lạm phát hay ổn định tỷ giá.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được xây dựng tương ứng:

  • Câu hỏi nghiên cứu thứ nhất: Liệu có tồn tại mối quan hệ giữa lãi suất chính sách và lạm phát ở Việt Nam hay không?
  • Câu hỏi nghiên cứu thứ hai: Việc điều hành công cụ lãi suất hiện nay ở Việt Nam hướng tới kiểm soát lạm phát hay ổn định tỷ giá?

Đối tượng nghiên cứu là khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ và công cụ lãi suất chính sách tại Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Thị trường tiền tệ và hệ thống kinh tế vĩ mô Việt Nam trong tương quan với các biến số quốc tế liên quan.
  • Thời gian: Dữ liệu chuỗi thời gian theo tháng, thu thập từ tháng 01 năm 2011 đến tháng 06 năm 2018 (giai đoạn bắt đầu thực thi Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án phân loại các công trình theo hai nhóm chính: nghiên cứu quốc tế và nghiên cứu trong nước.

Về nghiên cứu quốc tế:

  • Khảo sát của Batini và Laxton (2006) tại 88 quốc gia phi công nghiệp chỉ ra hơn một nửa số quốc gia này có nguyện vọng chuyển sang IT, trong đó Việt Nam được xếp vào nhóm tiềm năng; sau năm 2010 gần ba phần tư số quốc gia tiềm năng đã thực hiện thành công.
  • Nghiên cứu của Debelle (2001) và Debelle cùng cộng sự (2018) từ IMF hệ thống hóa hai điều kiện tiền đề của IT và chỉ ra rào cản lớn nhất ở các nền kinh tế mới nổi là mối quan hệ lỏng lẻo giữa công cụ tiền tệ gián tiếp với lạm phát.
  • Các công trình kinh điển đặt nền móng lý thuyết cho IT: Phillips (1958), Samuelson và Solow (1960) về sự đánh đổi ngắn hạn; Friedman (1968) và Phelps (1967) bác bỏ sự đánh đổi trong dài hạn và xác lập tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên; Lucas (1972, 1973, 1976), Sargent và Wallace (1975), Barro (1976) phát triển lý thuyết kỳ vọng hợp lý; Kydland và Prescott (1977), Calvo (1978) phát hiện hiện tượng bất nhất quán theo thời gian; Alesina và Summers (1993), Cukierman (1992), Fischer (1994), Forder (2000) chứng minh tương quan thuận giữa tính độc lập của ngân hàng trung ương và khả năng kiểm soát lạm phát; Bernanke và cộng sự (1999), Mishkin (2001, 2007), Carare và cộng sự (2002), Schmidt-Hebbel và Tapia (2002), Ito và Hayashi (2004), Hammond (2012) hệ thống hóa các trụ cột thể chế và kỹ thuật của IT.

Về nghiên cứu trong nước:

  • Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và lạm phát: Nguyen và Nguyen (2010), Hoang (2014) chứng minh Việt Nam không bị chi phối bởi áp chế tài chính, thâm hụt tài khóa không tác động trực tiếp thúc đẩy lạm phát.
  • Đánh giá điều kiện áp dụng IT tại Việt Nam: Tô Kim Ngọc (2012), Tô Kim Ngọc và Nguyễn Khương Duy (2012), Tô Kim Ngọc và Lê Tuấn Nghĩa (2012), Lý Bá Hồng Sơn và Nguyễn Văn Trường (2012), Nguyễn Xuân Hưng (2008, 2009), Nguyễn Phúc Cảnh (2013), Nguyễn Thanh Nhàn (2010), Đỗ Thị Đức Minh (2003), Nguyễn Ngọc Thạch (2013). Các tác giả này tập trung phân tích định tính về thể chế, mô hình dự báo và tính minh bạch.
  • Báo cáo Tổng quan Việt Nam 2035 của Ngân hàng Thế giới (2016) khuyến nghị Việt Nam đối mặt tình trạng đa mục tiêu và cần lựa chọn giữa quản lý chặt tỷ giá hoặc tập trung vào lạm phát.

Khoảng trống luận án giải quyết: Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chưa kiểm định định lượng cụ thể mức độ tác động của từng loại lãi suất chính sách (tái cấp vốn và tái chiết khấu) tới lạm phát trong khuôn khổ mô hình truyền dẫn chính sách đầy đủ, đồng thời chưa tách bạch mức độ phản ứng của lãi suất đối với tỷ giá so với lạm phát để kiểm tra điều kiện độc lập công cụ và điều kiện đơn mục tiêu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án dựa trên lý thuyết điều hành chính sách tiền tệ hiện đại, xuất phát từ hệ thống mục tiêu: mục tiêu hoạt động, mục tiêu trung gian và mục tiêu cuối cùng (Mishkin & Serletis, 2011). Ngân hàng trung ương không thể đồng thời kiểm soát cả lượng cung tiền và lãi suất trên thị trường tiền tệ. Khi chuyển dịch sang cơ chế thị trường, lãi suất ngắn hạn được sử dụng làm mục tiêu hoạt động nhằm truyền dẫn đến tổng cầu và giá cả.

Khung phân tích truyền dẫn chính sách tiền tệ dựa trên nghiên cứu của Mosser và Kuttner (2002), bao gồm 4 kênh chính:

  • Kênh lãi suất: Sự thay đổi của cung ứng tiền tệ hoặc lãi suất chính sách tác động đến chi phí vốn, dẫn đến điều chỉnh tiêu dùng và đầu tư, làm thay đổi tổng cầu, độ lệch sản lượng và tác động đến mức giá.
  • Kênh tỷ giá hối đoái: Tác động qua hai chiều: hàng xuất khẩu (lãi suất giảm làm giảm giá trị nội tệ, kích thích xuất khẩu ròng, tăng tổng cầu) và hàng nhập khẩu (nội tệ mất giá làm tăng chi phí đầu vào nhập khẩu, đẩy mặt bằng giá nội địa tăng).
  • Kênh giá tài sản tài chính: Dựa trên lý thuyết q của Tobin (1969) và hiệu ứng của cải tiêu dùng, giải thích sự truyền dẫn từ lãi suất qua giá cổ phiếu đến quyết định mở rộng thiết bị nhà xưởng và chi tiêu hộ gia đình.
  • Kênh tín dụng: Phân nhánh thành kênh cho vay ngân hàng và kênh bảng cân đối kế toán, liên quan đến thông tin bất cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức.

Về thể chế lạm phát mục tiêu, luận án sử dụng định nghĩa và phân loại của IMF, Mishkin (2001, 2011), chia thành ba biến thể: IT toàn phần (Full-fledge Inflation Targeting - FFIT), IT chiết trung (Eclectic Inflation Targeting - EIT) và IT lai ghép (Inflation Targeting Lite - ITL). Luận án cũng phân tích các nguyên tắc vận hành: tính minh bạch, chiến lược truyền thông, công bố thông tin và trách nhiệm giải trình.

Phương pháp nghiên cứu và mô hình thực nghiệm

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phương pháp định tính: Phân tích văn bản pháp lý (Luật Ngân hàng Nhà nước 2010), đối chiếu các tiêu chí về tính độc lập của ngân hàng trung ương và tổng kết kinh nghiệm quốc tế (New Zealand, Canada, Anh, Úc).
  • Phương pháp định lượng: Thiết lập mô hình Vector sai số hiệu chỉnh (Vector Error Correction Model - VECM) 5 biến số kinh tế vĩ mô nhằm mô phỏng cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ:
Ký hiệu biến Nội dung biến số Bản chất kinh tế
INF Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Phản ánh mức độ lạm phát trong nước
R Lãi suất chính sách Lãi suất tái cấp vốn ($R_1$) trong Mô hình 1; Lãi suất tái chiết khấu ($R_2$) trong Mô hình 2
EX Tỷ giá danh nghĩa VND/USD Đại diện cho kênh tỷ giá hối đoái
AD Tổng cầu trong nước Đại diện cho tổng sản lượng và độ lệch cầu nội địa
FAD Tổng cầu nước ngoài Đại diện cho cú sốc tổng cầu bên ngoài

Quy trình phân tích dữ liệu thực hiện tuần tự qua các bước:

  1. Kiểm định tính dừng của các chuỗi dữ liệu (Unit root test) nhằm xác định bậc tích hợp của chuỗi thời gian.
  2. Xác định độ trễ tối ưu dựa trên các tiêu chí thông tin (AIC, HQIC, SBIC) và kiểm định đồng liên kết Johansen để xác định số lượng vector đồng liên kết dài hạn.
  3. Ước lượng mô hình VECM cho hai trường hợp lãi suất tái cấp vốn ($R_1$) và lãi suất tái chiết khấu ($R_2$).
  4. Kiểm định chẩn đoán sự phù hợp và tính ổn định của mô hình thông qua kiểm định phân phối phần dư và đa thức đặc trưng AR.
  5. Phân tích hàm phản ứng đẩy (Impulse Response Function - IRF) và phân rã phương sai sai số dự báo (Forecast Error Variance Decomposition - FEVD). Toàn bộ dữ liệu được xử lý trên phần mềm STATA 14.

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp theo tháng thu thập từ tháng 01/2011 đến tháng 06/2018 (90 quan sát), trích xuất từ Thống kê Tài chính Quốc tế (IFS) của IMF, Trung tâm Thông tin Dữ liệu Châu Á (ARIC) và số liệu công bố chính thức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Tổng cục Thống kê.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu chung về đề tài

Chương 1 thiết lập tổng thể đề tài nghiên cứu. Tác giả chỉ ra tính cấp thiết của việc nghiên cứu cơ chế lạm phát mục tiêu tại Việt Nam khi thời hạn định hướng theo Quyết định 112/2006/QĐ-TTg đã cận kề năm 2020 nhưng việc áp dụng thực tế vẫn chưa thành công. Tác giả làm rõ hai điều kiện tiên quyết theo khuyến nghị của IMF: tính độc lập của ngân hàng trung ương và sự ưu tiên cho mục tiêu kiểm soát lạm phát. Chương này nêu rõ hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể, hai câu hỏi nghiên cứu, phương pháp định lượng VECM 5 biến kết hợp phân tích định tính, phạm vi nghiên cứu từ tháng 01/2011 đến tháng 06/2018, đồng thời tóm tắt kết cấu 5 chương và nêu ba điểm mới của luận án.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu về chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu

Chương 2 trình bày toàn diện cơ sở lý luận về chính sách tiền tệ và khuôn khổ lạm phát mục tiêu:

  • Hệ thống mục tiêu: Phân định ranh giới giữa mục tiêu cuối cùng (ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế, công ăn việc làm, ổn định tỷ giá, ổn định thị trường tài chính), mục tiêu trung gian (cung tiền M2 hoặc lãi suất) và mục tiêu hoạt động (dự trữ ngân hàng hoặc lãi suất ngắn hạn). Phân tích đồ thị cân bằng thị trường tiền tệ chứng minh tính loại trừ lẫn nhau giữa việc kiểm soát cung tiền và kiểm soát lãi suất.
  • Các công cụ điều hành: Tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ trực tiếp (hạn mức tín dụng, trần lãi suất).
  • Cơ chế truyền dẫn: Hệ thống hóa 4 kênh truyền dẫn chính (lãi suất, tỷ giá, giá tài sản, tín dụng) theo sơ đồ Mosser và Kuttner (2002).
  • Tiến trình lịch sử lý thuyết kinh tế: Phân tích sự chuyển dịch từ trường phái Keynes (đường cong Phillips dốc xuống), trường phái trọng tiền của Milton Friedman (tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, đường Phillips thẳng đứng trong dài hạn), trường phái kỳ vọng hợp lý của Lucas, Sargent, Wallace, Barro, đến lý thuyết bất nhất quán theo thời gian của Kydland, Prescott, Calvo, dẫn tới yêu cầu tất yếu về một neo danh nghĩa và sự độc lập của ngân hàng trung ương.
  • Khuôn khổ lạm phát mục tiêu: Lịch sử hình thành qua 3 giai đoạn (neo tỷ giá cố định, neo cung tiền, neo lạm phát mục tiêu bắt đầu từ New Zealand năm 1989); phân loại cấu trúc IT, các trụ cột (minh bạch, truyền thông, giải trình) và kinh nghiệm quốc tế tại New Zealand, Úc, Canada, Anh.
  • Tổng quan nghiên cứu: Đánh giá chi tiết các công trình quốc tế và trong nước, định vị khoảng trống nghiên cứu của luận án.

Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 xây dựng khung nghiên cứu thực nghiệm. Tác giả trình bày cấu trúc hai mô hình VECM tương ứng với hai công cụ lãi suất chính sách của NHNN Việt Nam:

  • Mô hình 1: Đánh giá tác động của lãi suất tái cấp vốn ($R_1$) trong hệ thống 5 biến (INF, $R_1$, EX, AD, FAD).
  • Mô hình 2: Đánh giá tác động của lãi suất tái chiết khấu ($R_2$) trong hệ thống 5 biến (INF, $R_2$, EX, AD, FAD).

Tác giả giải thích chi tiết các biến số đại diện, nguồn số liệu từ IFS, ARIC và NHNN, cùng các giả thuyết nghiên cứu. Chương này quy định các bước phân tích chuỗi thời gian: kiểm định nghiệm đơn vị (Augmented Dickey-Fuller / Phillips-Perron), xác định độ trễ tối ưu bằng các tiêu chuẩn AIC, HQIC, SBIC, kiểm định đồng liên kết Johansen (Trace test và Max-Eigenvalue test), ước lượng phương trình VECM, kiểm định tính ổn định của mô hình thông qua nghiệm đa thức đặc trưng AR, kỹ thuật phân tích hàm phản ứng đẩy (IRF) và phân rã phương sai (FEVD) trên phần mềm STATA 14.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 4 trình bày toàn bộ kết quả phân tích định lượng và đánh giá thực tiễn:

  • Kiểm định tính dừng: Chuỗi dữ liệu của cả hai mô hình đều không dừng ở bậc gốc I(0) nhưng dừng ở sai phân bậc 1, tức đều tích hợp bậc 1, ký hiệu I(1).
  • Kiểm định độ trễ và đồng liên kết: Xác định được độ trễ tối ưu cho từng mô hình; kết quả kiểm định Johansen khẳng định sự tồn tại của vector đồng liên kết giữa các biến số, chứng minh có mối quan hệ cân bằng dài hạn và cho phép áp dụng mô hình hiệu chỉnh sai số VECM.
  • Kiểm định tính ổn định: Kết quả kiểm định nghiệm đa thức đặc trưng AR cho thấy tất cả các nghiệm đều nằm trong vòng tròn đơn vị, bảo đảm mô hình ước lượng ổn định.
  • Kết quả từ hàm phản ứng đẩy (IRF) và phân rã phương sai (FEVD):
    • Mối quan hệ giữa lãi suất và lạm phát: Đối với cả hai mô hình (sử dụng $R_1$ và $R_2$), cú sốc lãi suất chính sách chỉ tạo ra phản ứng rất yếu và mờ nhạt đối với lạm phát; phân rã phương sai cho thấy tỷ lệ giải thích của lãi suất đối với sự biến động của lạm phát ở mức rất thấp trong suốt các chu kỳ dự báo.
    • Mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá: Cú sốc lãi suất chính sách tác động rất mạnh và rõ nét đến biến động của tỷ giá; mức độ giải thích của lãi suất đối với phương sai sai số của tỷ giá vượt trội hoàn toàn so với mức độ giải thích đối với lạm phát.
    • Tác động truyền dẫn của tỷ giá tới lạm phát: Biến tỷ giá giải thích tỷ lệ rất nhỏ trong sự biến động của lạm phát trong giai đoạn nghiên cứu.
  • Thảo luận thực tiễn: Đối chiếu kết quả định lượng với thực tế điều hành của NHNN giai đoạn 2011–2018. Tác giả đánh giá mô hình thể chế của NHNN theo Luật Ngân hàng Nhà nước 2010 qua các chỉ số đo lường mức độ độc lập, cho thấy NHNN là cơ quan thuộc Chính phủ, chịu sự quản lý trực tiếp về mục tiêu và nhân sự, do đó tính độc lập chính trị và kinh tế còn hạn chế. Thực tế điều hành cho thấy NHNN đã sử dụng lãi suất chính sách chủ yếu nhằm ổn định tỷ giá thay vì theo đuổi kiểm soát lạm phát, dẫn tới việc chưa đáp ứng hai điều kiện cơ bản của IMF để áp dụng IT.

Chương 5: Kết luận và khuyến nghị

Chương 5 đúc kết các phát hiện then chốt: chỉ ra công cụ lãi suất chính là "điểm nghẽn" trong việc chuyển đổi sang khuôn khổ IT tại Việt Nam; xác nhận Việt Nam chưa đáp ứng đủ hai điều kiện tiên quyết của IMF. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các nhóm giải pháp và khuyến nghị:

  • Khuyến nghị nâng cao tính độc lập cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Đổi mới địa vị pháp lý nhằm tăng tính độc lập trong việc sử dụng công cụ điều hành chính sách tiền tệ; tách bạch thẩm quyền quyết định lãi suất với các chỉ tiêu tài khóa; tăng cường nguồn tài chính tự chủ để tránh áp chế tài chính.
  • Nhóm khuyến nghị về chính sách tỷ giá và lãi suất: Tiếp tục duy trì cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý, từng bước mở rộng biên độ dao động tỷ giá nhằm giảm áp lực can thiệp bằng công cụ lãi suất; hoàn thiện cơ chế truyền dẫn của lãi suất thông qua phát triển thị trường tiền tệ và thị trường liên ngân hàng, hướng tới việc lấy lãi suất ngắn hạn liên ngân hàng làm mục tiêu hoạt động duy nhất.
  • Nêu rõ các hạn chế của nghiên cứu và xác định hướng nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới của luận án

So với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam, luận án đóng góp ba phát hiện thực nghiệm cụ thể:

  1. Luận án cung cấp bằng chứng thực nghiệm lượng hóa rõ nét: việc điều hành công cụ lãi suất (bao gồm cả lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu) hướng tới kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn 2011–2018 không đạt hiệu quả thực tế, do mối quan hệ giữa công cụ lãi suất chính sách và lạm phát rất yếu.
  2. Luận án phát hiện lãi suất chính sách ở Việt Nam tác động rất lớn đến tỷ giá hối đoái, với mức độ tác động vượt trội so với tác động tới lạm phát. Đây là bằng chứng thực nghiệm cho thấy trong thời gian qua, NHNN đã sử dụng công cụ lãi suất hướng tới bảo vệ và ổn định tỷ giá nhiều hơn mục tiêu kiểm soát giá cả, đồng nghĩa với việc chưa đáp ứng điều kiện tiên quyết thứ hai của IMF (tập trung đơn mục tiêu kiểm soát lạm phát).
  3. Luận án chỉ ra mức độ giải thích của tỷ giá đối với sự thay đổi của lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu là rất nhỏ (mức độ truyền dẫn của tỷ giá vào lạm phát thấp). Phát hiện này mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng: Việt Nam hoàn toàn có dư địa tiếp tục thực thi cơ chế quản lý tỷ giá thả nổi linh hoạt và mở rộng biên độ dao động tỷ giá mà không tạo ra áp lực gia tăng lạm phát đột biến, tạo điều kiện thuận lợi để chuyển dần trọng tâm sang điều hành lạm phát mục tiêu trong tương lai.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

Từ các kết quả nghiên cứu, luận án đề xuất hệ thống giải pháp:

  • Về mặt thể chế: Cần sửa đổi Luật Ngân hàng Nhà nước theo hướng gia tăng quyền tự chủ cho NHNN, tối thiểu là quyền độc lập lựa chọn và thực thi công cụ chính sách tiền tệ mà không cần phê duyệt từng quyết định can thiệp ngắn hạn từ Chính phủ.
  • Về công cụ điều hành: Thống nhất vai trò định hướng của một mức lãi suất chính sách then chốt trên thị trường liên ngân hàng; giảm dần sự can thiệp trực tiếp bằng mệnh lệnh hành chính (hạn mức tín dụng, trần lãi suất huy động); củng cố cơ chế truyền dẫn qua kênh lãi suất thị trường.
  • Về chính sách tỷ giá: Chuyển dịch dần từ việc can thiệp bằng lãi suất để giữ tỷ giá sang mở rộng biên độ dao động tỷ giá ngoại tệ, sử dụng tỷ giá làm đệm giảm sốc cho các biến động kinh tế đối ngoại nhằm giải phóng công cụ lãi suất tập trung cho mục tiêu ổn định giá cả nội địa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi dữ liệu dừng ở mốc tháng 06 năm 2018, chưa phản ánh được những biến động kinh tế vĩ mô và các điều chỉnh chính sách tiền tệ trong các năm tiếp theo.
  • Mô hình VECM tập trung phân tích 5 biến số vĩ mô cốt lõi, chưa tích hợp đầy đủ các kênh dẫn truyền khác như kênh giá tài sản tài chính (thị trường chứng khoán, bất động sản) hoặc cấu trúc tín dụng chi tiết của từng khối ngân hàng thương mại do giới hạn dữ liệu chuỗi thời gian theo tháng tại Việt Nam.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Cập nhật chuỗi dữ liệu sau năm 2018 để đánh giá tính ổn định của các mối quan hệ truyền dẫn trong bối cảnh thị trường tài chính phát triển sâu hơn.
  • Mở rộng mô hình nghiên cứu bao gồm các biến số đo lường kỳ vọng lạm phát của thị trường và phân tích chi tiết cơ chế truyền dẫn qua hệ thống bảng cân đối kế toán của hệ thống tổ chức tín dụng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng: Cung cấp khung phương pháp luận hoàn chỉnh về phân tích chuỗi thời gian kinh tế lượng vĩ mô (mô hình VECM, kiểm định đồng liên kết Johansen, IRF, FEVD) trên phần mềm STATA 14; đồng thời hệ thống hóa chi tiết lược sử lý thuyết chính sách tiền tệ từ Keynes, trường phái trọng tiền đến lý thuyết kỳ vọng hợp lý và lạm phát mục tiêu.
  • Các nhà hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính, cơ quan của Quốc hội: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm cụ thể lý giải nguyên nhân lãi suất chưa tác động hiệu quả đến lạm phát và bằng chứng về việc công cụ lãi suất bị chi phối bởi mục tiêu tỷ giá, hỗ trợ cơ sở khoa học cho lộ trình sửa đổi luật và hiện đại hóa khuôn khổ chính sách tiền tệ.

Các phần đáng tham khảo nhất trong luận án gồm:

  • Mục tổng quan cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ và lược sử lý thuyết kinh tế (Chương 2).
  • Quy trình thiết lập mô hình VECM 5 biến và kỹ thuật kiểm định chẩn đoán chuỗi thời gian (Chương 3 và Phụ lục 1, Phụ lục 2).
  • Kết quả phân rã phương sai và hàm phản ứng đẩy chứng minh sự lệch hướng mục tiêu giữa tỷ giá và lạm phát (Chương 4).

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao lãi suất chính sách ở Việt Nam lại được xác định là "điểm nghẽn" khi chuyển sang lạm phát mục tiêu?

Trong cơ chế lạm phát mục tiêu, lãi suất ngắn hạn là công cụ gián tiếp then chốt để tác động đến tổng cầu và kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, kết quả ước lượng mô hình VECM của luận án cho thấy mối quan hệ giữa hai loại lãi suất chính sách của NHNN (tái cấp vốn và tái chiết khấu) với lạm phát là rất yếu và không có ý nghĩa điều tiết rõ rệt. Do mối quan hệ này không đủ mạnh và ổn định, NHNN không thể sử dụng lãi suất làm công cụ dẫn dắt lạm phát về mức mục tiêu như các nước áp dụng IT toàn phần.

2. Hai điều kiện tiền đề để áp dụng chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu theo IMF gồm những gì và Việt Nam đáp ứng ra sao?

Theo nhóm nghiên cứu của IMF (Debelle và cộng sự, 2018), hai điều kiện cơ bản gồm: (1) Ngân hàng trung ương độc lập trong điều hành chính sách tiền tệ (tối thiểu là độc lập về công cụ và không bị áp chế tài chính); (2) Ngân hàng trung ương ưu tiên tập trung vào mục tiêu duy nhất/then chốt là kiểm soát lạm phát. Luận án kết luận Việt Nam chưa thỏa mãn cả hai điều kiện: NHNN chưa có sự độc lập hoàn toàn về công cụ chính sách, đồng thời trong giai đoạn 2011–2018, công cụ lãi suất được điều hành ưu tiên hướng tới việc ổn định tỷ giá hơn là kiểm soát lạm phát.

3. Nghiên cứu sử dụng những biến số nào trong mô hình kinh tế lượng và chuỗi dữ liệu ra sao?

Luận án thiết lập hai mô hình hồi quy vector hiệu chỉnh sai số (VECM) 5 biến số:

  • Biến lạm phát (INF): Chỉ số giá tiêu dùng CPI.
  • Biến lãi suất chính sách (R): Lãi suất tái cấp vốn ($R_1$) trong mô hình thứ nhất; Lãi suất tái chiết khấu ($R_2$) trong mô hình thứ hai.
  • Biến tỷ giá hối đoái (EX): Tỷ giá danh nghĩa VND/USD.
  • Biến tổng cầu trong nước (AD).
  • Biến tổng cầu nước ngoài (FAD). Dữ liệu được thu thập theo tần suất tháng từ tháng 01 năm 2011 đến tháng 06 năm 2018 (tổng số 90 quan sát), xử lý bằng phần mềm STATA 14.

4. Bằng chứng nào trong luận án cho thấy Ngân hàng Nhà nước ưu tiên ổn định tỷ giá hơn kiểm soát lạm phát?

Kết quả phân tích hàm phản ứng đẩy (IRF) và phân rã phương sai (FEVD) từ cả hai mô hình chứng minh cú sốc lãi suất chính sách tạo ra tác động rất lớn và kéo dài đối với tỷ giá VND/USD, trong khi tác động đối với lạm phát rất mờ nhạt. Tỷ lệ giải thích phương sai của lãi suất đối với tỷ giá cao hơn nhiều so với tỷ lệ giải thích đối với lạm phát. Điều này phản ánh thực tế điều hành của NHNN trong giai đoạn 2011–2018 đã dùng công cụ lãi suất như một biện pháp bảo vệ sự ổn định của tỷ giá hối đoái.

5. Phát hiện về mức độ truyền dẫn của tỷ giá tới lạm phát có ý nghĩa chính sách gì?

Kết quả nghiên cứu chỉ ra tỷ giá giải thích một tỷ lệ rất nhỏ sự thay đổi của lạm phát, chứng tỏ mức độ truyền dẫn từ tỷ giá vào mức giá nội địa ở Việt Nam giai đoạn 2011–2018 là không đáng kể. Ý nghĩa chính sách của phát hiện này là: NHNN có thể tự tin duy trì chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý và từng bước nới rộng biên độ biến động của tỷ giá mà không lo ngại nguy cơ tỷ giá làm bùng phát lạm phát, qua đó giảm bớt việc dùng lãi suất để can thiệp tỷ giá và giải phóng công cụ lãi suất phục vụ mục tiêu kiểm soát lạm phát.

Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2019) đã đánh giá toàn diện khả năng chuyển đổi sang khuôn khổ chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu tại Việt Nam thông qua kiểm định thực nghiệm mô hình VECM 5 biến số trong giai đoạn 2011–2018. Kết quả nghiên cứu chứng minh mối quan hệ giữa lãi suất chính sách và lạm phát tại Việt Nam còn rất yếu, trong khi lãi suất lại tác động mạnh mẽ đến tỷ giá hối đoái nhằm phục vụ mục tiêu ổn định tỷ giá. Bằng chứng thực nghiệm này khẳng định Việt Nam chưa thỏa mãn hai điều kiện tiên quyết của IMF về tính độc lập công cụ và tính ưu tiên mục tiêu kiểm soát lạm phát, qua đó chỉ ra công cụ lãi suất chính là điểm nghẽn trọng yếu cần tháo gỡ trước khi chính thức áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu.