Chương 1 được xem là cơ sở để thực hiện các nội dung tiếp theo của luận án. 14 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN Chương này của luận án sẽ thông qua các cơ sở lý thuyết về CSTT, CSATVM, ổn định tài chính, cơ chế tác động của CSTT và CSATVM đến ổn định tài chính để xác định khung phân tích nền. Ngoài ra, dựa trên cơ sở khảo lược các nghiên cứu liên quan về tác động của CSTT và CSATVM đến ổn định tài chính, tác giả sẽ xác định phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu phù hợp với nội dung của luận án. Ổn định tài chính Mặc dù ổn định tài chính từ lâu là mục tiêu chính sách của các NHTW trên thế giới và là một chủ đề quan trọng của các cuộc thảo luận kinh tế, tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có một quan điểm thống nhất về Ổn định tài chính.
Khác với ổn định giá cả, ổn định tài chính liên quan đến sự tương tác giữa nhiều thành phần trong hệ thống tài chính và giữa hệ thống tài chính với các thành phần khác của nền kinh tế thực. Hiện nay, có hai cách tiếp cận về ổn định tài chính. (1) Khái niệm hẹp – tìm cách mô tả tình huống nào không được xem là không Ổn định tài chính, có nghĩa đưa ra một khái niệm về bất ổn tài chính. (2) Khái niệm rộng – tìm kiếm một thuật ngữ mô tả ổn định tài chính.
Bất ổn tài chính Theo Mishkin (1999), bất ổn tài chính xảy ra khi các cú sốc đối với hệ thống tài chính can thiệp vào các luồng thông tin, làm cho hệ thống tài chính thất bại trong việc dịch chuyển nguồn vốn đến những dự án đầu tư hiệu quả. Khái niệm về thông tin bất cân xứng, điều dẫn đến lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức là nhân tố chính đóng góp vào quan điểm này. Theo Mishkin (1999), lựa chọn nghịch có thể được giải thích như một tình huống mà bên tham gia, chủ thể chấp nhận sẵn sàng vay một khoản vay với lãi suất cao hơn để tham gia một dự án hứa hẹn suất sinh lời lớn, nhưng rủi ro cũng rất lớn và không quá chú tâm trong việc có thể hoàn thành nghĩa vụ vay hay không. Vì sẵn sàng trả một mức lãi suất cao hơn, những chủ thể này có xu hướng trở thành những người đi vay được lựa chọn.
Rủi ro đạo đức xảy ra sau khi bên đi vay được giải ngân vốn và họ hành xử theo cách làm cho khả năng hoàn trả khoản vay của họ bị giảm xuống. Khi vấn đề bất cân xứng thông tin diễn ra trầm trọng, hệ thống tài chính không còn khả năng nhận diện đầy đủ các thông tin trên thị trường để có thể tài 15 trợ chính xác cho các cá nhân và doanh nghiệp có phương án kinh doanh khả thi. Hơn thế nữa, một cú sốc đối với hệ thống tài chính có thể làm cho vấn đề bất cân xứng thông tin trở nên trầm trọng hơn, điều này sẽ dẫn đến sự thiếu hụt quỹ cho vay trên thị trường, kể cả những cá nhân, doanh nghiệp có những dự án thật sự hiệu quả. Sự thiếu hụt tín dụng làm giảm chi tiêu của nền kinh tế, dẫn đến thu hẹp hoạt động kinh tế.
Mishkin (1999), nhấn mạnh 4 yếu tố làm trầm trọng hơn vấn đề bất cân xứng thông tin: (1) bảng cân đối kế toán khu vực tài chính xấu đi dẫn đến cắt giảm nguồn quỹ cho vay của ngân hàng thương mại (NHTM); (2) lãi suất thị trường tăng, khiến chi phí cho vay tăng, các ngân hàng có xu hướng sẽ cho vay các dự án có rủi ro cao, với mong muốn suất sinh lợi của các dự án này có thể bù đắp khoản chi phí gia tăng; (3) sự bất ổn gia tăng gây ra khó khăn lớn hơn trong việc sàng lọc các khoản đầu tư có rủi ro tín dụng thấp khỏi những khoản đầu tư có rủi ro tín dụng cao của các ngân hàng; (4) sự xấu đi của bảng cân đối kế toán khu vực phi tài chính. Sự giao động mạnh giá tài sản và việc các tổ chức tài chính không có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ theo hợp đồng là yếu tố chính gây ra sự bất ổn tài chính. Tuy vậy, Crockett (1997) nhận định rằng, một vài biến động nhỏ trong giá tài sản, hoặc một số TCTD không hoàn thành một số nghĩa vụ của mình không bị xem là bất ổn tài chính nếu nó không gây ra tác động đối với hoạt động của nền kinh tế thực hoặc tỷ lệ lạm phát. Ferguson (2003) xem xét sự bất ổn định tài chính theo khía cạnh khả năng các mối đe dọa có thể xảy ra đối với hoạt động kinh tế thực.
Nếu không duy trì được sự ổn định về giá tài sản, khả năng cung cấp tín dụng hoặc tổng chi tiêu gần với khả năng sản xuất tiềm năng của nền kinh tế thì khả năng bất ổn tài chính sẽ xảy ra. Bất ổn tài chính có thể được coi làm gia tăng nguy cơ dẫn đến sự sụp đổ lớn của hệ thống hoặc khủng hoảng tài chính. Davis (2003) liên hệ sự sụp đổ này với khả năng việc phân bổ tín dụng và cung cấp dịch vụ thanh toán của hệ thống tài chính một cách hiệu quả bị vô hiệu. Tuy vậy, cũng như Crockett (1997), tác giả này cho rằng sự giao động của giá tài sản có thể được xem là một đặc tính của bất ổn tài chính, nhưng không nhất thiết là khủng hoảng tài chính.
Khác với các cách tiếp cận trên, thay vì đưa ra định nghĩa về bất ổn tài chính, Borio và Drehmann (2008) cho rằng hệ thống tài chính được xem là không ổn định 16 khi một cú sốc cỡ vừa tác động đến hệ thống tài chính dẫn đến dấu hiệu căng thẳng tài chính hoặc khủng hoảng tài chính. Các tác giả này nhấn mạnh hậu quả đối với nền kinh tế thực và để ngỏ khả năng cuộc khủng hoảng xuất hiện là do nội tác bởi chu kỳ tài chính hay các tác động đến từ bên ngoài. Rosengren (2011) cho rằng sự bất ổn tài chính là một tình huống mà trong đó nền kinh tế thực bị ảnh hưởng tiêu cực bởi sự bất ổn đến từ các TCTC cung ứng tín dụng. Sự bất ổn này có thể xuất phát các trục trặc từ các tổ chức, thị trường, hệ thống thanh toán hoặc hệ thống tài chính nói chung.
Tác giả này cũng nhấn mạnh vai trò then chốt của các TCTD trong việc cung cấp các dịch vụ giúp nền kinh tế được vận hành một cách ổn định. Từ lược khảo các quan điểm khoa học trên về bất ổn tài chính, tác giả chắt lọc một số đặc điểm chung như sau: - Bất ổn tài chính được đánh giá dựa trên hậu quả đối với nền kinh tế thực. - Bất ổn tài chính xảy ra khi hệ thống tài chính không thể phân bổ và cung cấp tín dụng một cách hiệu quả cho các bên tham gia thị trường và thất bại trong việc cung cấp các dịch vụ thanh toán. - Biến động mạnh giá tài sản là một đặc tính của bất ổn tài chính, nhưng nó không nhất thiết là nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính.
Ổn định tài chính Theo Foot (2003), một hệ thống tài chính đạt trạng thái ổn định tài chính khi nó bao gồm bốn thành phần chính: - Ổn định tiền tệ (được định nghĩa như sự ổn định giá trị của tiền), theo Foot (2003), yếu tố này được xem là then chốt cho ổn định tài chính bởi vì ổn định tài chính không thể đạt được trong điều kiện lạm phát nhanh. - Tỷ lệ việc làm trong nền kinh tế thực phải gần với mức toàn dụng (nền kinh tế đạt mức tăng trưởng tiềm năng) của nền kinh tế. - Niềm tin vào hoạt động của các TCTC then chốt, đòi hỏi sự ổn định của hệ thống ngân hàng và niềm tin vào các hoạt động trên thị trường tài chính (TTTC), điều này sẽ giúp sự phân bổ giữa các khoản vay mượn và tiết kiệm, đầu tư dài hạn diễn ra một cách trơn tru trong lẫn khu vực tư nhân và doanh nghiệp. 17 - Sự ổn định trong giá cả tài sản thực và tài sản tài chính, hoặc, nói cách khác, nó có nghĩa rằng sự biến động giá cả tài sản không gây ra sự đe dọa đối với ổn định tiền tệ, và mức tỷ lệ việc làm ứng với sản lượng tiềm năng.
Theo định nghĩa của Schinasi (2004), ổn định tài chính là bất cứ khi nào hệ thống tài chính trong một chuỗi ổn định mà nó có thể tạo điều kiện thuận lợi (thay vì ngăn cản) sự hoạt động của hệ thống kinh tế và làm phân tán sự mất cân xứng tài chính bắt nguồn từ nội tại hoặc là kết quả của các sự kiện gây tác động tiêu cực đáng kể và không dự kiến trước. Một chuỗi ổn định có nghĩa là sự kết hợp của nhiều khía cạnh và thể hiện thông qua sự kết hợp của nhiều biến đo lường. Một bộ các biến là sự kết hợp của các biến con (subset) sẽ giúp lượng hóa (dù không hoàn hảo) về mức độ khả năng TTTC tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế như tiết kiệm và đầu tư, vay và cho vay, tạo tính thanh khoản và phân phối tài chính, định giá tài sản và cuối cùng là tăng trưởng và tích lũy sự thịnh vượng. Tạo điều kiện thuận lợi thay vì cản trở hoạt động của nền kinh tế có nghĩa là, hệ thống tài chính góp phần vào (thay vì cản trở) sự phân bổ hiệu quả các nguồn lực, tỷ lệ tăng trưởng sản lượng, quá trình tiết kiệm, đầu tư và tạo ra sự thịnh vượng.
Để có thể có một cái nhìn tổng thể, trọn vẹn về ổn định tài chính, Schinasi (2004) đã đưa ra một số nguyên tắc cơ bản cho việc xác định và phát triển định nghĩa về ổn định tài chính. - Nguyên tắc đầu tiên: Ổn định tài chính là một khái niệm rộng, nó bao gồm các khía cạnh khác nhau của tài chính (và hệ thống tài chính) – cơ sở hạ tầng, các tổ chức định chế tài chính, và TTTC. Cả khu vực công và tư đều tham gia vào thị trường và các thành phần cốt lõi của cơ sở hạ tầng tài chính (bao gồm hệ thống pháp lý, và khung pháp lý (official frameworks) cho các quy định và giám sát, quản lý. Bởi vì có sự liên kết chặt chẽ giữa tất cả các thành phần trong hệ thống tài chính, do vậy, bất cứ một sự nhiễu loạn của thành phần riêng lẻ nào của hệ thống tài chính cũng làm xói mòn ổn định của toàn bộ hệ thống.