Chương 1: Giới thiệu sơ nét về ERPT và những vấn đề có liên quan. Cung cấp cái nhìn ban đầu về ERPT. Chương 2: Khái quát một số nghiên cứu có liên quan. Nêu lên các vấn đề đã được xem xét và các mô hình được sử dụng để phân tích.
Chương 3: Giới thiệu mô hình sử dụng và cơ chế hoạt động của nó. Mô tả các biến được sử dụng và cách thức xử lý cho phù hợp với mô hình. Chương 4: Trình bày các kết quả thu thập được từ ứng dụng mô hình VAR. Thông qua các hệ số để giải đáp các câu hỏi được nêu ra sau đây.
Chương 5: Tổng kết các kết quả nghiên cứu. Nhận xét, đánh giá và đưa một số khuyến nghị phù hợp. Đồng thời chỉ ra những giới hạn của bài nghiên cứu và đưa ra hướng nghiên cứu tiếp theo. Nhìn chung, trên cơ sở tìm hiểu tác động truyền dẫn ở Việt Nam ở mức độ nào bài nghiên cứu của chúng tôi cố gắng trả lời các câu hỏi sau.
Cơ chế truyền dẫn của tỷ giá đến lạm phát tại Việt Nam như thế nào? 2. Khi tỷ giá biến động 1% thì các chỉ số giá tại Việt Nam, đặc biệt là lạm phát thay đổi bao nhiêu? So với các nước trong khu vực và so với các bài nghiên cứu khác tại Việt Nam thì mức này là cao hay thấp? 3. Với 1% biến động của lạm phát thì tác động của tỷ giá chiếm bao nhiêu phần trăm trong đó? 1. Giới thiệu vấn đề nghiên cứu.
Tùy theo đối tượng nghiên cứu mà các nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm khác nhau về ERPT. Theo nghiên cứu của Goldberg và Knetter năm 1996 thì ERPT được hiểu là phần trăm thay đổi của giá nhập khẩu tính bằng đồng tiền nước sở tại do 1% 3 thay đổi của tỷ giá giữa các nước xuất khẩu và nhập nhẩu. Goldberg và Knetter (1996) đã chỉ ra rằng có 2 kênh truyền dẫn tỷ giá: trực tiếp và gián tiếp. Bài nghiên cứu này tập trung theo hướng trực tiếp, tức là khi tỷ giá tăng (hay đồng tiền nước sở tại mất giá) sẽ trực tiếp khiến giá nhập khẩu tính bằng đồng nội tệ tăng.
Kênh truyền dẫn gián tiếp liên quan tới tính cạnh tranh của hàng hóa trong nước trên thị trường quốc tế. Cụ thể là khi tỷ giá tăng, hàng trong nước rẻ tương đối hơn so với hàng nước ngoài dẫn đến xuất khẩu tăng kéo theo cầu lao động và tiền lương tăng, từ đó giá tiêu dùng tăng theo. Mặt khác, hàng nhập khẩu trở nên đắt đỏ hơn thì cầu mặt hàng thay thế cho nó cũng có thể tăng cả về số lượng lẫn giá cả đẩy giá tiêu dùng tăng. Còn McCarthy (2000) dưới góc độ vĩ mô hơn thì ERPT là tác động của tỷ giá và giá nhập khẩu đến lạm phát.
Theo chúng tôi, ERPT là tác động truyền dẫn của tỷ giá đến các chỉ số giá trong nước, bao gồm chỉ số giá nhập khẩu IMP, chỉ số giá sản xuất PPI và chỉ số giá tiêu dùng CPI, trong đó bao gồm cả tác động trực tiếp đến từng các mức chỉ số giá và tác động gián tiếp theo chu trình giá. Có nghĩa là tác động trực tiếp của tỷ giá đến IMP, đến PPI và đến CPI. Còn về mặt gián tiếp, khi tỷ giá biến đổi thì IMP sẽ chịu tác động trước tiên, biến động trong IMP sẽ kéo theo biến động đến PPI và cuối cùng là tác động của PPI lên chỉ số giá tiêu dùng CPI. Cơ chế này có thể được tóm tắt theo mô hình sau: 4 Hình 1.
Mô hình cơ chế truyền dẫn của tỷ giá. Tỷ giá tăng (VND giảm giá) Tác động trực Tác động gián Đầu vào nhập Hàng hóa nhập Cầu nội địa Cầu xuất khẩu khẩu đắt hơn khẩu đắt hơn hàng Việt thay tăng Cầu lao động Chi phí sản tăng xuất tăng Hàng Việt thay thế và xuất Lương tăng Giá tiêu dùng tăng Nguồn: Laflèche (1996) 5 Chương 2: ERPT VÀ CÁC BÀI NGHIÊN CỨU 2. Học thuyết ngang giá sức mua-The Purchasing Power Parity Theory (PPP). Học thuyết ngang giá sức mua đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tỷ giá và dự báo xu hướng biến động của tỷ giá.
Thuyết ngang giá sức mua-PPP chỉ ra rằng: Tỷ giá hối đoái giữa hai loại tiền tệ sẽ được điều chỉnh sao cho giá của cùng một rổ hàng hoá ở thị trường nội địa của hai nước đó có mức giá tương đương nhau. Theo học thuyết này thì tỷ giá phản ánh mức lạm phát trong nước. Tỷ giá tăng kéo theo xu hướng tăng lạm phát. Do đó, trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo thì tác động truyền dẫn của tỷ giá đến giá trong nước (ERPT) là toàn phần.
Tức là tỷ lệ tăng của lạm phát bằng với tỷ lệ tăng của tỷ giá. Năm 1985, Rudiger Dornbusch đã có bài nghiên cứu về đề tài này “Purchasing Power Parity”, trên cở sở các nghiên cứu trước đó để đưa đến một khái niệm và cách hiểu toàn vẹn hơn về ngang giá sức mua thông qua việc so sánh giá cả và đường đi của nó. Tuy nhiên các giả thiết của PPP khó xảy ra trong thực tế nên xuất hiện giả thiết ERPT không toàn phần và khác nhau ở các quốc gia khác nhau, ở các ngành khác nhau và ở các mặt hàng khác nhau. Vì vậy cùng năm đó Dornbusch xem xét việc tăng giá của đồng USD trình bày trong bài “Exchange rates and prices”, nghiên cứu về tác động khác nhau của tỷ giá lên các ngành công nghiệp khác nhau, đến các sản phẩm và thị trường khác nhau trong khoảng thời gian từ 1980-1984 tại nước Mỹ.
Bài viết đã đạt được một số vấn đề sau: Thứ nhất, nó phát triển giả thuyết rằng có một số lĩnh vực mà một sự biến đổi về tỷ giá có thể dẫn đến sự biến đổi lớn ở các mức giá có liên quan và một số lĩnh vực khác có biến đổi của các mức giá đó là không đáng kể. Thứ hai, Dornbusch sử dụng các mô hình tổ chức công nghiệp để giải thích cho việc điều chỉnh giá theo mức độ tập trung của thị trường, mức độ đồng nhất và có thể thay thế của hàng hóa và thị phần của các doanh nghiệp trong và ngoài nước có liên quan. Nếu thị trường càng tập trung nhiều hàng hoá và nhiều doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh cùng 1 mặt hàng thì giá sẽ phản ứng càng nhạy với sự thay đổi của tỷ giá nên với cùng một mức tăng của đồng USD thì giá sẽ giảm càng lớn. Trường hợp hàng hóa có tính đồng nhất thì các doanh nghiệp trong nước sẽ giảm giá hoàn 6 toàn.
Nếu sản phẩm có tính riêng biệt, khi tỷ giá tăng thì hàng nhập khẩu sẽ chịu tác động trước và giảm nhiều hơn so với hàng trong nước. Mức độ giảm sẽ phụ thuộc vào mức độ cạnh tranh và số lượng các doanh nghiệp nước ngoài và trong nước trong ngành. Nếu thị trường càng cạnh tranh và càng nhiều doanh nghiệp tham gia thì mức độ giảm càng tăng và càng nhanh hơn. Tuy nhiên, do nghiên cứu trong khoảng thời gian ngắn nên các giả định có vẻ là phù hợp.
Nhưng trong dài hạn thì các giả định này có thể không còn phù hợp nữa. Giả định đó là mức lương là không phản ứng lại với những biến đổi trong đầu ra và lợi nhuận, và số lượng và vị trí của doanh nghiệp trong 1 ngành không bị ảnh hưởng. Nhưng trong dài hạn thì doanh nghiệp sẽ tìm cách giảm chi phí nhân công bằng cách chuyển sang các lĩnh vực có chi phí này rẻ hơn và do đó vị thế của doanh nghiệp trong ngành đó cũng thay đổi. Kết luận là ERPT là có tồn tại và mức độ ERPT sẽ khác nhau ở các thị trường khác nhau.
Các bài nghiên cứu sau đây sẽ giải thích rõ hơn nguyên nhân hay các nhân tố ảnh hưởng đến sự khác biệt về ERPT này. Định giá theo thị trường (Pricing to market). “Pricing to market when the exchange rate changes”-Paul Krugman (1986) là một bài nghiên cứu tìm hiểu sơ lược về mức độ thực tế của việc định giá theo thị trường (Pricing to market) và nguyên nhân của hiện tượng này bằng một số mô hình ở thị trường Mỹ, các nước Châu Âu. Định giá theo thị trường ở đây được hiểu là việc các doanh nghiệp xuất khẩu phản ứng với biến động tỷ giá thông qua việc điều chỉnh giá cả hàng hóa của mình.
Krugman kết luận định giá theo thị trường là một trong những nhân tố tác động đến mức độ ERPT với một số đặc điểm sau: Thứ nhất, định giá theo thị trường khi tỷ giá biến đổi là không hoàn toàn. Hơn 30% mức tăng giá của đồng đô Mỹ so với đồng Mark Đức được phản ánh bởi chênh lệch giá nhập khẩu của cùng một mặt hàng ở Mỹ với ở các thị trường khác. Và định giá theo thị trường không phổ biến. Bằng chứng ở giao thương với Đức chỉ giới hạn trong sản phẩm máy móc thiết bị vận tải.
Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là do thị trường không hoàn hảo và các yếu tố năng động của thị trường. 7 Cuối cùng là kỳ vọng của các doanh nghiệp về 1 biến động tỷ giá. Nếu họ kỳ vọng biến động này chỉ là tạm thời thì họ sẽ ít xem xét đến việc điều chỉnh giá cả, tuy nhiên nếu ngược lại thì khả năng điều chỉnh giá là rất cao, tức ERPT sẽ cao. Tuy nhiên đấy chỉ là quan điểm trên góc độ của một doanh nghiệp.
Năng lực định giá (Pricing power), môi trường lạm phát của quốc gia. Ở mức độ nghiên cứu 1 quốc gia, bài viết “Low inflation, pass-through, and the pricing power of firms” của John B. Bài nghiên cứu này đưa ra quan điểm về sự sụt giảm trong tác động truyền dẫn hay năng lực định giá là do môi trường lạm phát thấp mà nhiều quốc gia đang hướng tới. Và đạt được các kết quả sau: Truyền dẫn thấp là do kỳ vọng của doanh nghiệp về chi phí trong tương lai.
Mặc dù đồng USD tăng giá về mặt lý thuyết thì giá cả hàng hoá dịch vụ sẽ giảm giúp cho chi phí giảm nhưng chi phí có sức ì của nó. Đó là kỳ vọng của doanh nghiệp về chi phí trong tương lai, họ không mong đợi chi phí sẽ giảm liền nên chưa giảm giá bán sản phẩm của họ khiến cho mức truyền dẫn của tỷ giá cũng bị giảm bớt. Tiếp theo là quán tính của lạm phát. Lạm phát có tương quan dương với tình trạng kéo dài của chính nó, giả định rằng tự bản thân lạm phát cũng khiến cho truyền dẫn thấp.