Chương 1:Tổng quan về truyền dẫn tỷ giá hối đoái và lý thuyết mô hình TVAR. Chương 2:Ứng dụng mô hình TVAR vào truyền dẫn tỷ giá hối đoái ở Việt Nam từ tháng 1 năm 2000 đến tháng 6 năm 2011. Chương 3: Kết luận Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục các bảng biểu, hình vẽ. 7 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRUYỀN DẪN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ LÝ THUYẾT MÔ HÌNH TVAR 1.
Truyền dẫn tỷ giá hối đoái Khái niệm về truyền dẫn hay cụm từ tiếng anh “pass-through” lần đầu tiên được dùng trong bài báo cáo giải thích sự tác động giảm giá tiền tệ lên nền kinh tế của tác giả Steve Magee (1873). Cho đến hiện nay, cụm từ này khá quen thuộc trong nghiên cứu về sự truyền dẫn tỷ giá hối đoái lên các chỉ số giá, lạm phát, cung tiền, lãi suất,.; và được đưa vào chương trình giảng dạy. Sự đa dạng của các bài nghiên cứu về chủ đề này bắt nguồn vào mục tiêu nghiên cứu, trên cơ sở đặc điểm tổng thể nền kinh tế của mỗi nước ở từng giai đoạn khác nhau.Thời gian lấy mẫu số liệu cho các biến, số lượng các biến khác nhau, với các phương pháp phân tích định lượng SVAR,VAR, VECM mang lại các kết quả nghiên cứu với các ý nghĩa giải thích đáp ứng phù hợp. Tác giả tổng hợp khái niệm truyền dẫn tỷ giá hối đoái theo một số cách mà các nhà nghiên cứu trên thế giới đã nêu ra như sau: - Truyền dẫn tỷ giá hối đoái lên chỉ số giá nhập khẩu là phần trăm thay đổi của giá cả nhập khẩu (tính theo đồng nội tệ) khi tỷ giá hối đoái thay đổi, đó là quan điểm của Goldberg và Knetter (1996).
- Truyền dẫn tỷ giá hối đoái theo Jonathan Mc Carthy (2007) cho rằng sự thay đổi của tỷ giá hối đoái ảnh hưởng lên giá nhập khẩu và sau đó ảnh hưởng lên tỷ lệ lạm phát trong nước. - Đối với các nước đang phát triển, truyền dẫn tỷ giá hối đoái là phần trăm thay đổi của các chỉ số giá trong nước (như chỉ số giá nhập khẩu (IMP), chỉ số giá sản xuất (IPP), chỉ số giá tiêu dùng (CPI)) khi tỷ giá hối đoái danh nghĩa thay đổi một phần trăm được thể hiện trong các nghiên cứu tiêu biểu của Daniel Leigh và Marco Rossi (2002), Michele Ca’Zorzi, Elke Hahn và Marcelo Sánchez (2007). Tổng quan các nghiên cứu về Truyền dẫn tỷ giá hối đoái 1. Tổng hợp các nghiên cứu về truyền dẫn tỷ giá hối đoái ở Việt Nam Võ Trí Thành và các đồng sự (2000) sử dụng mô hình VECM với biến cung tiền (như CU, M1, M2), CPI, tỷ giá hối đoái (OER, SER, SSER, HSER) và sản lượng (giá trị sản lượng công nghiệp thực là biến đại diện) trong thời gian từ tháng 1năm 1992 đến tháng 6 năm 1999.
Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy rằng những thay đổi trong cung tiền (CU, M1, M2) không chứa đựng bất kì thông tin tiên đoán về lạm phát và các dao động của sản lượng, thay vào đó nó xác định một nhu cầu lớn về cung tiền. Tốc độ của các thay đổi của tỷ giá hối đoái thay đổi có ý nghĩa trong kiểm định nhân quả Granger giữa tăng trưởng sản lượng, lạm phát, và tăng trưởng tiền, nhưng nó đã không giúp gì trong dự báo các di chuyển tương lai của lạm phát. Hơn thế nữa,về mặt tổng thể, các thay đổi trễ trong cung tiền đặc biệt là M2 như là mục tiêu chính sách quan trọng nhất của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam, không là các yếu tố xác định sự mất giá của tỷ giá hối đoái. Các thay đổi trong tỷ giá hối đoái danh nghĩa (trong các trường hợp của tỷ giá hối đoái của ngân hàng nhà nước, và liên ngân hàng) đáp ứng, mặc dầu mâu thuẫn nhau,như là một chỉ dẫn cho sự tăng trưởng sản lượng, nhưng nguyên nhân này không ổn định.
Lạm phát hiện tại và tăng trưởng sản lượng (ở đây là sản lượng công nghiệp) hầu như được giải thích bởi các di chuyển của chính chúng trong quá khứ. Các tỷ lệ mất giá thực có tác động tích cực và ý nghĩa lên tăng trưởng sản lượng, mặc dầu độ lớn không ổn định. Võ Văn Minh (2009) cũng sử dụng mô hình VAR với dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ tháng 1 năm 2001 đến tháng 2 năm 2007. Biến nghiên cứu là: NEER, Output Gap, Oil (Giá dầu UK Brent), IMP, CPI, M2.
Tất cả các biến (ngoại trừ Output Gap) đều được điều chỉnh mùa vụ và sau đó được lấy logarit tự nhiên.Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy rằng, mức độ truyền dẫn của cú sốc tỷ giá hối đoái lên chỉ số giá nhập khẩu trong năm đầu tiên trung bình là 0.61 điều đó có nghĩa là 61% thay đổi của tỷ giá được truyền vào giá nhập khẩu và trong vòng từ tháng thứ 5 đến tháng thứ 7 thì mức độ truyền dẫn đã vượt quá mức truyền dẫn hoàn toàn, ngụ 9 ý rằng các doanh nghiệp đã phản ứng quá mức đối với cú sốc tỷ giá. Còn đối chỉ số giá tiêu dùng CPI thì mức độ truyền dẫn của tỷ giá nhỏ hơn và chậm hơn, một cú sốc dương của tỷ giá dẫn đến phản ứng dương của CPI từ tháng thứ 5 đến tháng thứ 15. Phản ứng cao nhất của CPI ở tháng thứ 10 và 11 sau khi cú sốc tỷ giá xảy ra, khi tỷ giá mất giá 1% thì CPI tăng lên 21%. Trung trình truyền dẫn của tỷ giá vào CPI trong năm đầu là 0.16 nếu không kể các phản ứng âm (tiêu cực) và trung bình trong năm thứ 2 là -0.
Sau 15 tháng, thì truyền dẫn của tỷ giá vào CPI, IMP hoàn toàn hết hiệu lực. Nguyễn Đình Mai Anh, Trần Mai Anh, Võ Trí Thành (2010) sử dụng mô hình VAR với dữ liệu nghiên cứu từ tháng 1 năm 2005 đến tháng 3 năm 2009 để xác định mức độ truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào lạm phát. Các biến được sử dụng trong mô hình nghiên cứu bao gồm: biến nội sinh: Output Gap, CPI, M2, lãi suất tiền gửi kì hạn 3 tháng của VNĐ, lãi suất tiền gửi kì hạn 3 tháng của USD, tỷ giá hối đoái VNĐ/USD, và 1 biến ngoại sinh: Oil (giá dầu UK Brent, đơn vị tính USD/barrel). Các biến ngoại trừ các biến lãi suất và output gap, đều được hiệu chỉnh mùa vụ.Tất cả các biến ngoại trừ biến output gap, đều lấy dưới dạng logarit tự nhiên và được lấy sai phân bậc nhất.
Kết quả nghiên cứu là sau 2 tháng kể từ cú sốc tỷ giá, hệ số truyền dẫn của tỷ giá vào lạm phát là 0.07, và bị loại bỏ hoàn toàn trong tháng thứ 3. So với một số nước đang phát triển khác, mức độ truyền dẫn tỷ giá hối đoái vào lạm phát ở Việt Nam ở mức độ vừa phải. Ở cùng thời điểm giống nhau, các kết quả phân rã phương sai và phản ứng xung cho thấy rằng cung tiền đóng vai trò chủ yếu trong việc kiểm soát lạm phát. Thêm vào vấn đề quản lý cung tiền, lãi suất tiền gửi kì hạn 3 tháng của VNĐ cũng là kênh ảnh hưởng đến lạm phát.
Và cuối cùng bài nghiên cứu phát hiện ra rằng một sự gia tăng của tổng cầu cũng làm gia tăng các mức giá. Kết quả này khác với các kết quả nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa tổng cầu và lạm phát. Nguyễn Thị Thu Hằng, Nguyễn Đức Thành (2010) sử dụng mô hình VECM để phân tích mối quan hệ giữa 12 biến: CPI, sản lượng công nghiệp, cung tiền M2, 10 tăng trưởng tín dụng, lãi suất tiền gửi hàng năm thống kê theo tháng, tỷ giá hối đoái do ngân hàng nhà nước công bố, chỉ số giá sản xuất PPI, thâm hụt ngân sách tích lũy, tổng giá trị giao dịch trên thị trường chứng khoán, chỉ số giá nhập khẩu, giá dầu thế giới và giá gạo thế giới, số liệu lấy theo tháng từ tháng 1 năm 2000 đến tháng 3 năm 2010. Các biến được điều chỉnh mùa vụ và lấy logarit tự nhiên.
Kết quả cho thấy rằng: ký ức và kỳ vọng của công chúng về lạm phát là hai nhân tố quan trọng quyết định lạm phát trong hiện tại, điều này đề cao tính tín nhiệm chính sách của Chính Phủ trong kiểm soát lạm phát. Giá dầu và giá gạo thế giới có ảnh hưởng quan trọng lên giá nhà sản xuất. Tuy nhiên, giá nhà sản xuất không tác động ngay lập tức đến giá tiêu dùng (lạm phát) và phải mất vài tháng mới nhận ra tác động này.Tốc độ điều chỉnh đối với các nhiễu là rất thấp trên cả thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối, điều này cho thấy rằng một khi các thị trường đi lệch xu hướng trong dài hạn, thì sẽ mất nhiều thời gian để nền kinh tế quay trở về tình trạng ban đầu mặc cho có các nỗ lực chính sách. Điều này cũng là một ngụ ý quan trọng đối với chính sách chống lại lạm phát: các biện pháp phòng ngừa với các hướng dẫn và mục tiêu rõ ràng là các chọn lựa tốt hơn sự cố gắng đương đầu với lạm phát cao sau khi nó đã bắt đầu.
Mặc khác, chính phủ cũng phản ứng chống lại lạm phát bằng công cụ tài khóa và tiền tệ nhưng thường tác động trễ và thụ động. Trái ngược với các nghiên cứu trước đây, mô hình đã tìm thấy một quy tắc đáng xem xét của tỷ giá hối đoái, một sự sụt giảm của tỷ giá hối đoái làm gia tăng áp lực lên lạm phát. Bài nghiên cứu cũng cho thấy không có bằng chứng rõ ràng về sự tác động của thâm hụt ngân sách lên lạm phát trong giai đoạn nghiên cứu. Nguyễn Thị Ngọc Trang và Lục Văn Cường (2012) sử dụng dữ liệu theo quý, bắt đầu từ quý 1 năm 2001 đến quý 4 năm 2011với phương pháp nghiên cứu đồng liên kết Johansen, mô hình hiệu chỉnh sai số và mô hình véc tơ tự hồi quy.
Các biến được sử dụng trong mô hình nghiên cứu: Chỉ số giá nhập khẩu, Chỉ số giá sản xuất, chỉ số giá tiêu dùng, GDP, NEER, EPC. Tất cả các biến đều được hiệu chỉnh mùa vụ bởi phương pháp Census X12 (ngoại trừ NEER, EPC), và đều được lấy logarit cơ số tự nhiên. Kết quả của bài nghiên cứu này cho thấy rằng trong dài hạn, sự 11 chuyển dịch của tỷ giá vào giá nhập khẩu là hoàn toàn, có nghĩa là khi tỷ giá tăng giá 1% (đồng nội tệ mất giá 1%) thì giá nhập khẩu tăng 1%. Tỷ giá danh nghĩa có hiệu lực chuyển dịch vào giá nhập khẩu lớn nhất (sau 3 quý kể từ cú sốc đầu tiên và bắt đầu giảm dần từ quý 4 trở đi), tiếp đến lần lượt là chỉ giá sản xuất, chỉ số giá tiêu dùng.