Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận 4 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Tỷ giá hối đoái Theo Mankiw (2012), Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là giá tương đối giữa đồng tiền của hai nước. Ví dụ Nếu tỷ giá giữa đô la Mỹ và Yên Nhật là 80 yên/ đô la khi đó ta có thể đổi 1 đô la để lấy 80 yên trên thị trường giao dịch ngoại hối Tỷ giá hối đoái thực là giá tương đối của hàng hóa giữa hai nước, nó cho ta biết tỷ lệ mà ta có thể trao đổi hàng hóa của một nước với hàng hóa của nước khác. Chẳng hạn giá ô tô ở Mỹ là 25.000 USD và giá một chiếc ô tô tương tự ở Nhật là 4.
Để so sánh giá của hai chiếc xe ta phải chuyển giá của chúng thành một đồng tiền chung. Nếu 1 đô la có giá 80 yên, giá ô tô của Mỹ là 80 x 25. Như vậy giá ô tô ở Mỹ chỉ bằng một nửa giá ô tô ở Nhật. Trong nghiên cứu này, tỷ giá được yết theo phương pháp trực tiếp: số lượng nội tệ để đổi lấy một đơn vị ngoại tệ.
Tỷ giá hối đoái - Khi xem xét tỷ giá hối đoái thực trong phạm vi một loại hàng hóa: Tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái danh nghĩa x Giá của hàng nước ngoài = thực Giá của hàng nội địa - Khi xem xét tỷ giá hối đoái thực trong phạm vi với một rổ hàng hóa: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa x Mức giá nước ngoài Tỷ giá hối đoái thực = Mức giá nước ngoài trong nước Nếu tỷ giá hối đoái thực tăng, hàng nội địa trở nên rẻ hơn và hàng nước ngoài đắt hơn tương đối. Nếu tỷ giá hối đoái thực giảm, hàng nước ngoài rẻ hơn và hàng trong nước đắt hơn tương đối. Xác định tỷ giá hối đoái dựa trên cách tiếp cận cán cân thanh toán quốc tế 5 Mối quan hệ giữa cán cân thanh toán quốc tế và tỷ giá hối đoái có thể được biểu diễn bằng công thức sau: Cán cân tài Cán cân tài Cán cân tài Dự trữ Cán cân khoản vãng + khoản vốn + khoản tài chính + ngoại hối = thanh toán lai (X-M) (CI-CO) (FI – FO) FXR quốc tế Trong đó: X là xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ M là nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ CI là dòng vốn chảy vào CO là dòng vốn chảy ra FI là dòng tài chính chảy vào FO là dòng tài chính chảy ra FXR là lượng dự trữ ngoại hối gồm cả vàng Theo cách tiếp cận cán cân thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái được xác định để cân bằng cung (hoặc cầu) giao dịch ngoại tệ (Kouri, 1976). Dưới cách tiếp cận này, cầu ngoại hối được xác định bởi lượng ngoại hối người cư trú chi tiêu cho hàng nhập khẩu và lượng ngoại hối người cư trú dùng để đầu tư ra nước ngoài; cung ngoại hối được xác định bởi lượng ngoại hối người nước ngoài chi tiêu cho hàng xuất khẩu của nước đó và lượng ngoại hối người nước ngoài dùng để đầu tư vào trong nước.
Sự giảm giá của đồng nội tệ làm tăng giá hàng nhập khẩu và các tài sản nước ngoài khi quy đổi về đồng nội tệ, và làm giảm giá của hàng xuất khẩu và các tài sản vốn trong nước khi quy đổi ra ngoại tệ; tác động ròng của điều này là một sự cải thiện cán cân thương mại của một nước trong ngắn hạn. Phân tích này có thể được mở rộng để kết hợp với hiệu ứng đường cong J, theo đó tính không co giãn của đường cầu trong ngắn hạn gây ra những thất bại của điều kiện Marshall –Lener1 1 Điều kiện Marshall-Lerner phát biểu rằng, để cho việc phá giá tiền tệ có tác động tích cực tới cán cân thanh toán, thì giá trị tuyệt đối của tổng hai độ co dãn theo giá cả của xuất khẩu và độ co dãn theo giá cả của nhập khẩu phải lớn hơn 1. Hiệu quả ròng của phá giá đối với cán cân thanh 6 trong giai đoạn này ngay lập tức kéo theo một sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái (Bilson, 1979). Hiệu ứng đường cong J phát biểu rằng sự thâm hụt cán cân thanh toán của một quốc gia có thể bị tồi tệ hơn ngay sau khi đồng nội tệ của nước này bị mất giá bởi vì trong ngắn hạn những tác động trên khối lượng nhập khẩu được xác định bởi tác động của giá cả, cuối cùng, những thay đổi trong tỷ giá hối đoái danh nghĩa được chuyển thành những thay đổi trong tỷ giá hối đoái thực, ảnh hưởng của giá cả được khắc phục và vị thế cán cân thương mại dần được cải thiện.
Đối với cán cân tài khoản tài chính, nếu đồng nội tệ của một nước dự kiến mạnh, các nhà đầu tư nước ngoài có thể sẵn sàng đầu tư vào chứng khoán của nước đó để hưởng lợi từ các biến động tiền tệ làm gia tăng dòng vốn đầu tư quốc tế vào trong nước. Theo cách tiếp cận này, những yếu tố làm tác động tới cán cân thương mại và dòng vốn đầu tư quốc tế sẽ dẫn đến làm thay đổi tỷ giá hối đoái. Cụ thể: Tỷ lệ lạm phát tương đối Sự thay đổi tỷ lệ lạm phát tương đối có thể ảnh hưởng tới các hoạt động thương mại đến lượt nó những hoạt động thương mại này tác động đến cầu tiền và cung tiền và vì thế ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái. Chẳng hạn, nếu lạm phát ở Việt Nam tăng đột ngột so với lạm phát ở Mỹ thì sự tăng đột ngột trong lạm phát này sẽ gây ra một sự gia tăng nhu cầu của Việt Nam đối với hàng hóa của Mỹ do đó làm tăng nhu cầu của người Việt Nam đối với đồng đô la Mỹ.
Thêm vào đó nhu cầu của người Mỹ đối với hàng Việt Nam giảm và vì thế làm giảm cung đồng đô la Mỹ để mua hàng của Việt Nam. Thu nhập tương đối toán tùy thuộc vào các độ co dãn theo giá. Nếu hàng xuất khẩu co dãn theo giá, thì tỷ lệ tăng lượng cầu về hàng hóa sẽ lớn hơn tỷ lệ giảm giá; do đó, kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng. Tương tự, nếu hàng nhập khẩu co dãn theo giá, thì chi cho nhập khẩu hàng hóa sẽ giảm.
Cả hai điều này đều góp phần cải thiện cán cân thanh toán. 7 Giả sử rằng thu nhập ở Việt Nam tăng đáng kể trong khi thu nhập ở Mỹ vẫn không thay đổi. Khi đó cầu của người tiêu dùng Việt Nam đối với hàng hóa của Mỹ tăng làm tăng cầu của người Việt Nam đối với đồng đô la Mỹ, trong khi đó cung đồng đô la Mỹ vẫn không đổi do nhu cầu người người Mỹ đối với hàng Việt Nam không đổi. Tác động này làm đồng đô la Mỹ tăng giá và tỷ giá hối đoái tăng.
Lãi suất Thay đổi trong lãi suất tương đối tác động đến đầu tư chứng khoán nước ngoài, đến lượt nó đầu tư chứng khoán nước ngoài lại ảnh hưởng tới cung và cầu tiền và vì thế ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái. Giả sử lãi suất của Việt Nam tăng trong khi lãi suất ở Mỹ vẫn không đổi. Trong trường hợp này các công ty ở Việt Nam sẽ có khả năng giảm nhu cầu của họ đối với đồng đô la Mỹ vì lãi suất ở Việt Nam hấp dẫn hơn lãi suất ở Mỹ. Khi đó cung đô la Mỹ sẽ tăng và cầu đô la Mỹ sẽ giảm làm tỷ giá hối đoái giữa đô la Mỹ và Việt Nam đồng giảm.
Kỳ vọng thị trường Giống như các thị trường tài chính khác, thị trường ngoại hối phản ứng lại với các thông tin trong tương lai có liên quan đến tỷ giá. Ví dụ niềm tin về khả năng lạm phát tiềm ẩn ở Mỹ tăng có thể làm những nhà đầu cơ bán đô la Mỹ do dự kiến đồng đô la Mỹ mất giá, điều này gây áp lực làm giảm giá đồng đô la ngay lập tức. Kiểm soát của chính phủ Chính phủ một nước có thể tác động tới tỷ giá hối đoái qua nhiều cách khác nhau: áp đặt các rào cản về ngoại hối, áp đặt các rào cản về ngoại thương, can thiệp vào thị trường ngoại hối hay tác động tới các biến vĩ mô như lạm phát, lãi suất và thu nhập quốc dân để điều chỉnh tỷ giá. Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại quốc tế, tài khoản tài chính là mối quan hệ hai chiều, tỷ giá hối đoái cũng có tác động đến cán cân thương mại và dòng vốn đầu tư quốc tế vào một nước.
Xác định tỷ giá hối đoái dựa trên cách tiếp cận mô hình cân bằng danh mục Mô hình cân bằng danh mục do các nhà kinh tế học tiền tệ khởi xướng. Bản chất của cách tiếp cận cân bằng danh mục đó là tỷ giá hối đoái như là giá cả tương đối của các đồng tiền, được coi như là một trong những giá cả làm cân bằng thị trường quốc tế đối với các tài sản tài chính quan trọng (Kouri, 1976). Do đó hành vi cung của các đồng tiền khác nhau và các tài sản tài chính khác cũng như hành vi của cầu đối với các tài sản đó phải được xem xét để giải thích cho hành vi của tỷ giá hối đoái. Frenkel (1976) chỉ ra rằng, khi xem xét các đồng tiền cho mục đích xác định tỷ giá hối đoái, một khái niệm liên quan đó là xem xét nó như một tài sản hơn là một dòng tiền.
Vì vậy, lý thuyết này được khởi đầu một cách thuận tiện trong phạm vi cung và cầu đối với các đồng tiền đó: điều kiện cân bằng mang tính quyết định là yêu cầu tổng cầu về mỗi đồng tiền quốc gia phải cân bằng với lượng tiền có sẵn. Các dòng vốn xuất hiện để điều chỉnh sự mất cân bằng đang tồn tại hoặc để hạn chế một sự mất cân bằng mới (Mussa, 1976). Mô hình cân bằng danh mục cho phép phân biệt giữa cân bằng ngắn hạn và sự điều chỉnh năng động để được một sự cân bằng dài hạn (MacDonald and Taylor, 1992): trong ngắn hạn tỷ giá hối đoái được xác định bởi sự tác động qua lại giữ cung và cầu trên thị trường tài sản. Cơ hội kinh doanh chênh lệch có thể bị giới hạn, do đó sức mua tương đương chỉ có thể đạt được đối với giới hạn các hàng hóa (Dornbusch, 1976).