MỞ ĐẦU 1.1 Lý do và mục đích chọn đề tài a. Lý do: Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, nhất là sự bùng nổ của công nghệ thông tin đã khiến các quốc gia trên Thế Giới có xu hướng hội nhập với nhau trên nhiều lĩnh vực, trong đó có hội nhập về kinh tế. Nước ta cũng định hướng phát triển kinh tế theo hướng hội nhập với các nước trong khu vực và mở rộng ra toàn Thế Giới: thực hiện Hiệp Định Thương Mại Việt Mỹ từ năm 2001, thực hiện CEPT/AFTA từ ngày 01.2003 và đang trong tiến trình để trở thành thành viên chính thức của WTO năm 2005… Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã nỗ lực để phát triển xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán do nhập siêu vẫn còn ở mức cao, giảm gánh nặng nợ vay nước ngoài và ra sức thu hút vốn đầu tư nước ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau… Đồng thời, nước ta ngày càng hoàn thiện thể chế, luật pháp, hệ thống tài chính, ngân hàng… tạo ra những tiền đề cần thiết cho tiến trình hội nhập. Vấn đề được đặt ra là: Làm thế nào để nước ta phát huy hết các lợi thế trong nước nhằm nâng cao dần sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên trường quốc tế, phát triển xuất khẩu và ngày càng hấp dẫn, thu hút vốn đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam mà vẫn giữ vững ổn định kinh tế, chính trị và xã hội ? Một trong những vấn đề quan trọng cần xem xét đó là chế độ tỷ giá hối đoái mà nước ta sẽ áp dụng khi thực hiện hội nhập kinh tế.
Mặt khác, các bài học rút ra từ các cuộc khủng hoảng xảy ra ở các quốc gia hội nhập kinh tế cũng đáng để chúng ta phải suy nghĩ. Cuộc khủng hoảng tiền tệ ở các nước Đông Á, khởi đầu từ Thái Lan sau đó lan rộng ra các nước lân cận trong khu vực, có nguy cơ trở thành một cuộc khủng hoảng hệ thống toàn cầu năm 1997 là một ví dụ. Hậu quả của nó một mặt làm giảm sản lượng, tỷ giá hối đoái, chỉ số chứng khoán, giá trị tài sản và chỉ số trái phiếu ở các quốc gia chịu tác động của Vậy đâu là chế độ tỷ giá hối đoái phù hợp và tối ưu cho Việt Nam? b. Mục đích: Câu trả lời không đơn giản chút nào.
Thực hiên đề tài này, tôi nghiên cứu các lý thuyết về chế độ tỷ giá hối đoái của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) (chương 2 & chương 3), kế đến nghiên cứu thực trạng chế độ tỷ giá hối đoái của Việt Nam qua các thời kỳ (chương 4), từ đó đưa ra những kiến nghị về chế độ tỷ giá tối ưu (chương 5), nhằm đưa nước ta hội nhập thành công vào nền kinh tế các nước trong khu vực và quốc tế, đảm bảo mục tiêu tăng trưởng, phát triển kinh tế, ổn định chính trị, xã hội và ngăn chặn các cú sốc, các cuộc tấn công đầu cơ làm tổn hại đến nền kinh tế, chủ quyền quốc gia.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: a. Đối tượng nghiên cứu: - Nghiên cứu lý thuyết về chế độ tỷ giá hối đoái qua các công trình nghiên cứu của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) và của các chuyên gia trong nước. - Nghiên cứu thực trạng các chế độ tỷ giá hối đoái của Việt Nam qua các thời kỳ: trước tháng 3/1989 và từ 3/1989 đến nay. - Xem xét bối cảnh kinh tế Việt Nam hiện nay và định hướng kinh tế trong ngắn và trung hạn - Khảo sát, phân tích và kiến nghị chế độ tỷ giá hối đoái tối ưu cho Việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế Thế Giới.
Phạm vi nghiên cứu: Bài viết này tập trung nghiên cứu chế độ tỷ giá hối đoái, các loại chế độ khác nhau, qua đó đánh giá, phân tích và kiến nghị một chế độ tối ưu trong một điều kiện kinh tế nào đó, cụ thể là Việt Nam. Hay nói cách khác, bài viết nghiên cứu cơ chế, một sự dàn xếp giữa các quốc gia, trong đó tỷ giá hối đoái có thể vận động theo ý đồ và mục tiêu mà chính phủ các nước đã đặt ra trong một hoàn cảnh, thời kỳ nhất định. Bài viết không mở rộng nghiên cứu điều hành chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá hối đoái nói chung.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: Chế độ tỷ giá hối đoái đã phát triển từ chế độ bản vị vàng (trước chiến tranh Thế Giới lần thứ nhất năm 1914), đến hệ thống Bretton Woods (sau chiến tranh Thế Giới lần thứ hai), đến các chế độ tỷ giá linh hoạt hơn từ sau năm 1973 và phát triển cao nhất là liên minh tiền tệ Châu Âu (khu vực đồng Euro). Đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của IMF về chủ đề này, chẳng hạn như lý thuyết Miền Tiền Tệ Tối Ưu OCA (Mundell-1961), lý thuyết Bộ Ba Bất Khả “Trilemma”vào những năm 1980, phân loại chế độ tỷ giá hối đoái của IMF năm 1999.
và nhiều kinh nghiệm rút ra từ các cuộc khủng hoảng. Tuy nhiên, đối với Việt Nam thì vấn đề này còn tương đối mới mẻ, do nước ta chính thức công bố chương trình đổi mới kinh tế từ năm 1996. Kề từ đó, nước ta mới dần dần chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, mở cửa giao lưu kinh tế với nước ngoài và tỷ giá hối đoái mới thực sự phát huy vai trò là một công cụ quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Những năm gần đây, khối lượng mậu dịch giữa Việt Nam và các nước ngày càng lớn, đầu tư nước ngoài đổ vào Việt nam ngày càng nhiều, cùng với cam kết lộ trình cắt giảm thuế quan CEPT, Hiệp Định Thương Mại Việt Mỹ.
và hướng tới gia nhập WTO, thì vấn đề tỷ giá nói chung và chế độ tỷ giá nói riêng càng đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế nước ta. Chính vì thế, nghiên cứu chế độ tỷ giá hối đoái của Việt Nam có ý nghĩa to lớn cả khía cạnh khoa học lẫn khía cạnh thực tiễn. Thực tế, nhiều chuyên gia trong nước đã cho ra đời nhiều công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến vấn đề này. Phần 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 2.1 Định nghĩa chế độ tỷ giá hối đoái: Chế độ tỷ giá hối đoái là sự dàn xếp trong một nhóm các quốc gia để thực hiện việc thanh toán và xác định tỷ giá hối đoái.
Về cơ bản, có ba loại chế độ: chế độ tỷ giá hối đoái cố định, chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi và các chế độ tỷ giá trung gian. Để hiểu rõ hơn về định nghĩa chế độ tỷ giá hối đoái, chúng ta cùng tìm hiểu về Hệ thống Bretton Woods trước đây. Đó là một sự thỏa hiệp về tỷ giá hối đoái giữa tỷ giá thả nổi và tỷ giá cố định được gọi là các quốc gia theo hệ thống neo tỷ giá có điều chỉnh (adjustable-peg). Thông thường, các quốc gia này can thiệp để duy trì tỷ giá hối đoái trong một biên độ hẹp (narrow band) so với mức neo (peg).
Nếu một quốc gia có cán cân thanh toán không cân bằng, nó sẽ phải điều chỉnh mức neo để lấy lại sự thăng bằng cho cán cân thanh toán. Do hệ thống tỷ giá hối đoái cố định Bretton Woods tỏ ra không còn phù hợp nữa vào cuối những năm 1960, nên nhiều nhà kinh tế đã đề nghị các quốc gia nên thả nổi đồng tiền của họ trên thị trường ngoại hối. Đến đầu năm 1973, nhiều quốc gia đã thả nổi đồng tiền của mình, điều đó đã đặt dấu chấm hết cho hệ thống Bretton Woods, mở ra một thời kỳ mới cho các chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn.2 Phân loại chế độ tỷ giá hối đoái Tuy nhiên, chế độ thả nổi hoàn toàn hay cố định hoàn toàn đều không hoàn hảo và không thể giải quyết tất cả các vấn đề mới nảy sinh trong thị trường tài chính toàn cầu. Vì thế, hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau.
Theo số liệu thống kê của IMF, các quốc gia được phân loại theo 03 nhóm lớn hệ thống tỷ giá hối đoái như sau: (a) Các quốc gia có đồng tiền được neo chặt vào một đồng tiền khác hoặc một rổ tiền tệ. (b) Các quốc gia có hệ thống tỷ giá hối đoái linh hoạt hạn chế, biến thiên theo một đồng tiền hay một rổ tiền tệ. (c) Các quốc gia với những hệ thống tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn.1 Phân loại chế độ tỷ giá hối đoái của IMF Chế độ tỷ giá hối đoái Mô tả 1 Dollar hóa, Euro hóa No separate legal tender 2 Chuẩn tiền tệ (Currency Board) Tiền tệ được hậu thuẫn hoàn toàn bởi các dự trữ ngoại hối. 3 Neo cố định theo quy ước Neo vào một tiền tệ khác hay một rổ (Conventional Fixed Pegs) tiền tệ với biên độ lớn nhất là +/- 1% 4 Dải băng ngang (Horizontal Bands ) Neo với niên độ lớn hơn +/- 1% 5 Neo trườn (Crawling Pegs ) Neo với ngang giá trung tâm định kỳ được điều chỉnh lượng cố định với mức độ được thông báo trước, đáp ứng lại những thay đổi các chỉ tiêu định lượng đã chọn 6 Dải băng trườn (Crawling Bands) Neo trườn kết hợp với biên độ lớn hơn +/- 1% 7 Thả nổi có quản lý với chiều hướng tỷ Can thiệp chủ động vào tỷ giá hối đoái giá hối đoái không được báo trước mà không có cam kết cho một mục tiêu (Managed Float with No Pre-announced hoặc chiều hướng được báo trước Path for the Exchange Rate) 8 Thả nổi độc lập (Independent Float) Tỷ giá hối đoái do thị trường xác định và chính sách tiền tệ độc lập với chính sách tỷ giá hối đoái Nguồn: IMF (1999) Theo một khảo sát khác phân loại chế độ tỷ giá hối đoái theo mức độ cố định từ cao xuống thấp (xem Bảng 2.2), gồm có 9 chế độ tỷ giá hối đoái khác nhau như sau: Bảng 2.2 Phân loại chế độ tỷ giá hối đoái theo mức độ cố định tỷ giá Chế độ cố định a.
Liên minh tiền tệ (Currency Unions) b. Chuẩn tiền tệ- Đô la hóa (Currency Boards- dollarization) c. Tỷ giá hối đoái cố định thực sự (Truly fixed exchange rates) Chế độ trung gian a. Neo có điều chỉnh (Adjustable pegs) b.
Neo trườn (Crawling pegs) c. Neo rổ tiền tệ (Basket pegs) d. Biên độ hay vùng mục tiêu (target zone or bands) Chế độ thả nổi a. Thả nổi có quản lý (Managed float) b.