Chương 1: Giới thiệu khái quát về các vấn đề liên quan đến bài nghiên cứu như lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu. - Chương 2: Trình bày về lý thuyết nền tảng và các nghiên cứu về mối quan hệ giữa biến động tỷ giá và xuất khẩu - Chương 3: Trình bày mô hình nghiên cứu cũng như dữ liệu đưa vào nghiên cứu và các bước thực hiện mô hình nghiên cứu - Chương 4: Trình bày các mối quan hệ giữa xuất khẩu song phương từ Việt Nam sang Mỹ với các nhân tố: biến động tỷ giá, tỷ giá thực và GDP của Mỹ trong ngắn hạn và dài hạn từ kết quả mô hình. - Chương 5: Chốt lại các vấn đề trong bài nghiên cứu.6 Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA BÀI NGHIÊN CỨU Bên cạnh làm rõ mối quan hệ giữa biến động tỷ giá và xuất khẩu song phương từ Việt Nam sang Mỹ, bài nghiên cứu còn xác định tác động của tỷ giá thực và nhu cầu của Mỹ đến xuất khẩu. Kết quả từ bài nghiên có đóng góp tích cực trong việc đưa ra các chính sách quan trọng đối với tỷ giá nhằm tăng trưởng xuất khẩu và góp phần tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
Bên cạnh đó, kết quả từ bài nghiên cứu sẽ giúp các doanh nghiệp thấy được sự thay đổi của các biến kinh tế vĩ mô sẽ tác động như thế nào đến xuất khẩu, từ đó giúp doanh nghiệp có cái nhìn dài hạn về tính hình xuất khẩu sắp tới và đưa ra các chiến lược quan trọng để giữ vững tăng trưởng trong lợi nhuận của doanh nghiệp. 5 CHƢƠNG 2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY 2.1 Tỷ giá hối đoái 2.1 Khái niệm về tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái là sự so sánh mối tương quan giá trị giữa hai đồng tiền với nhau hoặc người ta có thể nói tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước này thể hiện bằng số lượng đơn vị tiền tệ nước khác.2 Phƣơng pháp yết giá Để biểu thị tỷ giá giữa các ngoại tệ, người ta thường dùng một trong hai cách sau: - Yết giá trực tiếp: là phương pháp yết giá mà trong đó lấy tiền trong nước (nội tệ) làm một đơn vị để so sánh với số lượng tiền tệ nước ngoài (ngoại tệ). Phương pháp yết giá này thường dùng ở một số quốc gia như Anh, Mỹ, Úc. 1 nội tệ = x ngoại tệ - Yết giá gián tiếp: là phương pháp yết giá mà trong đó lấy ngoại tệ làm một đơn vị để so sánh với số lượng tiền tệ trong nước.
1 ngoại tệ = x nội tệ 2.3 Phân loại tỷ giá hối đoái - Tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực: Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là giá của một đơn vị ngoại tệ tính theo đồng tiền trong nước và chưa tính đến sức mua của đồng tiền. Tỷ giá hối đoái thực là tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh theo giá tương đối giữa các nước. Tỷ giá này tăng lên, đồng tiền trong nước được coi là bị 6 giảm giá thực so với đồng tiền nước ngoài và khi tỷ giá này giảm thì đồng tiền trong nước được coi là bị tăng giá thực so với đồng tiền nước ngoài. - Tỷ giá hối đoái song phương và tỷ giá hối đoái hiệu lực: Tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền được gọi là tỷ giá hối đoái song phương.
Tỷ giá hối đoái hiệu lực là tỷ lệ trao đổi giữa một đồng tiền X với nhiều đồng tiền khác cùng lúc (thông thường là đồng tiền của các bạn hàng thương mại lớn). Tỷ giá này được tính dựa trên giá trị bình quân gia quyền của các tỷ giá song phương giữa đồng tiền X với từng đồng tiền kia. - Tỷ giá hối đoái chính thức và Tỷ giá hối đoái song song. Tỷ giá hối đoái chính thức: do nhà nước qui định, hoặc do cả thị trường lẫn nhà nước qui định.
Ví dụ: tỷ giá bình quân liên ngân hàng, tỷ giá tính thuế xuất nhập khẩu. Tỷ giá không chính thức (còn gọi là tỷ giá hối đoái song song hay tỷ giá chợ đen): do thị trường quyết định ví dụ: tỷ giá đổi tiền tại các cửa hàng kinh doanh vàng bạc ngoại tệ của tư nhân hay khi đổi tiền trong nhân dân.2 Xuất khẩu Kinh doanh xuất nhập khẩu là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các nước thông qua hành vi mua bán. Sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ đó là một hình thức của mối quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt của các quốc gia khác nhau trên thế giới. Vậy xuất khẩu là việc bán hàng hoá (hàng hoá có thể là hữu hình hoặc vô hình) cho một nước khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm đồng tiền thanh toán.
Tiền tệ có thể là tiền của một trong hai nước hoặc là tiền của một nước thứ ba (đồng tiền dùng thanh toán quốc tế).3 Tác động của biến động tỷ giá lên hoạt động xuất khẩu - Ảnh hƣởng của biến động tỷ giá lên kim ngạch xuất khẩu: Khi tỷ giá hối đoái giảm, giá đồng nội tệ tăng lên, lượng ngoại tệ thu về từ hoạt động xuất khẩu sẽ giảm xuống, doanh thu từ hoạt động xuất khẩu tính ra đồng nội tệ bị thu hẹp, xuất khẩu 7 không được khuyến khích hay xu thế chung thường gặp là sút giảm trong hoạt động xuất khẩu. Bên cạnh đó, khi tỷ giá hối đoái tăng, giá đồng nội tệ giảm xuống, lượng nội tệ nhận được khi qui đổi từ lượng ngoại tệ thu về được nhiều hơn, kim ngạch xuất khẩu tăng lên, kích thích hoạt động xuất khẩu tăng trưởng và phát triển. - Ảnh hƣởng của biến động tỷ giá lên cơ cấu hàng xuất khẩu: Đối với cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, các mặt hàng nông sản, sơ chế dường như nhạy cảm hơn với mọi biến động tăng, giảm của tỷ giá hối đoái so với các mặt hàng như máy móc, thiết bị toàn bộ, xăng dầu… Lý do đưa ra nhằm giải thích cho vấn đề này là do độ co giãn của các mặt hàng nông sản, sơ chế đối với giá xuất khẩu hoặc tỷ giá hối đoái là rất cao, do đây là các mặt hàng có thể thay thế được trong khi độ co giãn của các mặt hàng máy móc, thiết bị toàn bộ, các mặt hàng không thay thế được như xăng, dầu … là rất thấp. Tỷ giá giảm đi khiến giá hàng xuất khẩu trở nên cao hơn, các mặt hàng dễ bị thay thế là danh mục đầu tiên bị loại ra khỏi danh sách sử dụng của người tiêu dùng nước ngoài và các mặt hàng này cũng sẽ mất dần cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu.
Trái lại, khi tỷ giá hối đoái tăng, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu có thể phong phú hơn do tính cạnh tranh về giá, sự tăng doanh thu xuất khẩu khiến nhà xuất khẩu đa dạng hóa mặt hàng… Đối với các mặt hàng không thể thay thế như xăng dầu thì tỷ giá có tăng hay giảm cũng ít ảnh hưởng đến cơ cấu cũng như tỷ trọng các mặt hàng này. - Ảnh hƣởng của biến động tỷ giá lên tính cạnh tranh của xuất khẩu: Đối với cạnh tranh về giá hàng xuất khẩu, một sự tăng lên của tỷ giá hối đoái sẽ khiến hàng hóa xuất khẩu nước này trở nên cạnh tranh do giá cả rẻ hơn, ngược lại nếu giá đồng nội tệ tăng tức tỷ giá hối đoái giảm sẽ khiến giá hàng xuất khẩu trở nên đắt hơn, tính cạnh tranh vì thế sẽ giảm đi. Trong cùng một thị trường tiêu thụ, nếu chất lượng hàng hóa như nhau thì xu hướng chung của người tiêu dùng là sẽ sử dụng sản phẩm nào rẻ hơn. Và giả sử chi phí sản xuất tại các quốc gia quy về cùng một đồng tiền là ngang nhau thì nước nào có mức giảm tỷ giá đồng tiền nước mình so với giá nội tệ của thị trường tiêu 8 thụ lớn hơn thì tính cạnh tranh về giá của nước đó cao hơn, nước đó có cơ hội phát triển xuất khẩu nhiều hơn.
Tóm lại, giá đồng nội tệ giảm có lợi cho xuất khẩu, giá đồng nội tệ tăng ngược lại sẽ gây bất lợi. Xu hướng này hầu như đúng đối với các quốc gia thực thi chế độ tỷ giá thả nổi hoặc thả nổi có quản lý, nơi tỷ giá danh nghĩa sát hoặc tiến sát giá trị thực. Còn đối với các quốc gia theo chế độ tỷ giá cố định, việc giảm/ tăng tỷ giá chính là giảm/ tăng tỷ giá danh nghĩa, không phải tỷ giá thực. Do đó, nếu một sự tăng tỷ giá hối đoái mà vẫn khiến tỷ giá danh nghĩa thấp hơn tỷ giá thực thì đồng nội tệ vẫn bị xem là định giá cáo hơn giá trị thực, tác dụng thúc đẩy xuất khẩu sẽ không nhiều.
2 CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ TƢƠNG QUAN ÂM GIỮA BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ VÀ XUẤT KHẨU Sự thay đổi từ tỷ giá cố định sang tỷ giá thả nổi linh hoạt ở Châu Âu năm 1973 làm cho sự quan tâm về mối quan hệ giữa biến động tỷ giá và sự thay đổi thương mại ngày càng lớn. Mặt khác sự biến động tỷ giá dẫn đến sự không chắc chắn về giá của các nhà xuất nhập khẩu cũng như khoản tiền họ sẽ nhận hoặc trả trong tương lai. Cụ thể hơn, do hầu hết các hợp đồng thương mại cho phép việc thanh toán trễ so với thời gian giao hàng mà nhà sản xuất không chắc chắn về khoản nội tệ nhận được từ lượng ngoại tệ qui đổi trong tương lai. Vì sự không chắc chắn này nên nhiều nhà xuất khẩu chuyển từ thị trường nước ngoài sang thị trường trong nước, do đó sẽ làm giảm kim ngạch xuất khẩu.
Lập luận cho mối quan hệ tương quan âm này đã được chứng minh bởi nhiều nghiên cứu thực nghiệm sau: Năm 1973, Ethier đã đi đầu trong việc thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa biến động tỷ giá và xuất khẩu. Kết quả nghiên cứu của Ethier cho thấy có mối quan hệ tương quan âm giữa sự không chắc chắn của tỷ giá hối đoái với xuất khẩu của công ty, nếu một công ty không có phương án phòng ngừa cho sự không chắc chắn này, trong 9 tương lai doanh thu của họ sẽ giảm. Nghiên cứu của Ethier cũng chỉ ra rằng, các công ty có thể giảm sự ảnh hưởng này bằng việc tham gia các hợp đồng kỳ hạn. Sang năm 1993, nghiên cứu của Chowdhurry về tác động của biến động tỷ giá lên dòng chảy thương mại của các nước G7.