Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Chương 2: Tổng quan lý luận và các nghiên cứu trước đây về tác động của tỷ giá hối đoái đến tăng trưởng kinh tế Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm Chương 5: Kết luận nêu kết quả nghiên cứu chính và hạn chế của đề tài cũng như đề xuất cho các nghiên cứu tiếp theo. 8 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.Lý luận về tác động của tỷ giá hối đoái đến tăng trưởng kinh tế: 2. Mô hình IS-LM của Mundell-Fleming Mundell-Fleming sử dụng mô hình kinh tế học vĩ mô gồm 2 đường IS và LM để phân tích tác động của các chính sách kinh tế vĩ mô được thực hiện trong một nền kinh tế mở cửa. Đây là mô hình lý thuyết được Robert Mundell và Marcus Fleming phát triển một cách độc lập trong những năm 1960 cho thấy mối quan hệ giữa sản lượng( đại diện cho tăng trưởng) với tỷ giá hối đoái danh nghĩa với tác động như sau: -Tác động của tỷ giá hối đoái và tăng trưởng trong nền kinh tế nhỏ, tỷ giá thả nổi Chính sách tài khóa: Trong ngắn hạn, dưới chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi và vốn chu chuyển hoàn hảo thì chính sách tài khóa hoàn toàn không có hiệu lực trong việc điều tiết tổng cầu của nền kinh tế.
Chính sách tiền tệ: Trong ngắn hạn, với tỷ giá hối đoái thả nổi và vốn chu chuyển hoàn hảo thì chính sách tiền tệ là có hiệu quả. Chính sách thương mại: Trong ngắn hạn, với tỷ giá hối đoái thả nổi thì biện pháp hạn chế thương mại chỉ làm tăng tỷ giá hối đoái mà không tác động đến sản lượng Y. -Tác động của tỷ giá hối đoái và tăng trưởng trong nền kinh tế nhỏ, tỷ giá cố định Chính sách tài khóa: Trong ngắn hạn, với tỷ giá hối đoái cố định thì chính sách tài khóa mở rộng sẽ làm tăng sản lượng Y. Chính sách tiền tệ: Trong ngắn hạn, với tỷ giá hối đoái cố định thì chính sách tiền tệ không có hiệu quả.
Chính sách thương mại: Trong ngắn hạn với tỷ giá hối đoái cố định thì chính sách thương mại là có hiệu quả. Cơ chế tác động của tỷ giá đến nền kinh tế: Thước đo của tăng trưởng là chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng thu nhập quốc dân (GNI), thu nhập bình quân đầu người(GNI/người) có liên quan 9 trực tiếp đến sản lượng thực tế sản xuất vì vậy khi so sánh giá giữa hai nước cần phải so sánh giá cả của một rổ hàng hóa tiêu dùng hay sản xuất đại diện của nước chủ nhà và giá cả của một rổ hàng hóa làm đại diện ở nước ngoài được ước tính bằng một loại tiền- được biết đến như là tỷ giá hối đoái thực chứ không là tỷ giá danh nghĩa. Trên thực tế, ngoài chỉ số CPI, các nhà nghiên cứu có thể sử dụng một số chỉ số khác để đo lường giá như chỉ số giá của riêng hàng hóa thương mại; Tỷ lệ giữa chỉ số giá hàng hóa xuất khẩu và chỉ số giá hàng hóa nhập khẩu (điều kiện thương mại hay TOT); tỷ lệ giữa chỉ số giá cả của hàng hóa thương mại và hàng hóa phi thương mại; Chỉ số giảm phát GDP. Theo các nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế thì các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế thông thường nói 4 nhân tố nguồn lực chủ yếu: vốn (K), lao động (L), tài nguyên đất đai (R), công nghệ kỹ thuật (T) và năng suất nhân tố tổng hợp (TFP).
Vì vậy tỷ giá cũng ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế thông qua các nhân tố nêu trên với các kênh truyền dẫn như sau: (i) Chính sách tỷ giá ảnh hưởng đến đầu tư trong nước và cả đầu tư nước ngoài, dòng vốn đầu tư nước ngoài sẽ giảm do tâm lý quan ngại biến động tỷ giá của các nhà đầu tư nước ngoài do đó ảnh hưởng tới quá trình tích lũy vốn. Trong khi vốn được coi là động lực của tăng trưởng kinh tế, là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế. Ở các nước đang phát triển thì tăng trưởng thường theo chiều rộng, trong đó sự đóng góp của vốn sản xuất vào tăng trưởng kinh tế thường chiếm tỷ trọng cao nhất. (ii) Chính sách tỷ giá ảnh hưởng trực tiếp tới giá hàng hóa có thể tham gia thương mại quốc tế và khu vực xuất nhập khẩu- được xem như là một cấu phần chiếm tỷ trọng lớn trong tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế, tác động tới khả năng cạnh tranh của hàng hoá dịch vụ nước chủ nhà với các nước còn lại của thế giới.
Chiến lược phá giá nội tệ sẽ tác động dương đến tăng trưởng kinh tế thông qua chiến lược hướng vào xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, vì khi đó giá hàng hoá xuất khẩu trở nên rẻ hơn trong khi giá hàng hoá nhập khẩu trở nên đắt hơn 1 cách tương đối. Áp dụng chính sách phá giá nội tệ là một cách ưu 10 đãi cho xuất khẩu và coi như đánh 1 loại thuế vô hình cho nhập khẩu. Đây cũng là chính sách luôn được các nhà hoạch định chính sách tại mỗi quốc gia lưu tâm. (iii) Chính sách tỷ giá cũng tạo ra sự chênh lệch trong giá hàng hoá thưong mại quốc tế và giá hàng hoá phi thương mại quốc tế, do đó tạo ra các tín hiệu sai lệch khi phân bổ nguồn lực sản xuất của nền kinh tế trong các ngành nghề và tạo ra những bất ổn.
(iv) Mức độ biến động tỷ giá có ảnh hưởng không tốt cho tăng trưởng; mức độ biến động tỷ giá đại diện cho mức độ ổn định của môi trường kinh tế, có thể thúc đẩy hoặc gây tổn hại tới các hoạt động kinh tế. Ngoài ra, sự biến động của sai lệch tỷ giá còn thể hiện các cú sốc từ bên trong và bên ngoài nền kinh tế cũng như phản ứng của nền kinh tế trước các chính sách của Chính phủ. (v) Tỷ giá thực có ảnh hưởng đến tăng trưởng trong dài hạn thông qua việc phân phối thu nhập. Trường phái hậu Kalekia nghiên cứu mô hình tăng trưởng và phân phối thu nhập chứng minh được rằng: định giá thấp có thể làm tăng thu nhập và tăng trưởng trong ngắn hạn dưới dạng tích luỹ vốn.
Theo quan điểm này, có hai tình huống xảy ra là tích luỹ vốn được quyết định bởi yếu tố lợi nhuận hoặc tích luỹ vốn được quyết định bởi yếu tố tiền lương thực tế. Nội tệ giảm sẽ tương đối làm giảm mức tiền lương thực tế nhưng tăng tỷ suất đầu tư từ đó mở rộng khả năng sản xuất của doanh nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá thương mại trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên mức tiền lương thực tế giảm có thể tạo ra hiệu ứng giảm tiêu dùng. Nếu độ nhạy cảm của đầu tư so với tỷ suất sinh lợi cao hơn so với hiệu ứng giảm tiêu dùng do giảm lương thực tế thì khi đó sự giảm lượng do giảm lượng cầu tiêu dùng sẽ được bù đắp bởi cầu đầu tư tăng, sức sản xuất của doanh nghiệp tăng, có lợi cho tăng trưởng kinh tế.
Nếu ngược lại, nội tệ giảm giá sẽ làm giảm sức sản xuất, có tác động âm đối với tăng trưởng kinh tế. Theo mô hình lý thuyết, mức độ tích luỹ vốn không những phụ thuộc vào vào mức tỷ giá thực mà phụ thuộc 11 chủ yếu vào độ lệch tỷ giá- mức độ sai lệch giữa tỷ giá cân bằng theo ngang giá sức mua và tỷ giá thực. Các lý luận thực nghiệm tác động của tỷ giá đến tăng trưởng kinh tế: Các nhà kinh tế học từ lâu đã biết rằng quản lý tỷ giá kém có thể gây hại cho sự tăng trưởng kinh tế. Tránh sự định giá quá cao đồng tiền là một trong những chính sách mệnh lệnh mạnh mẽ nhất từ kinh nghiệm đối với tăng trưởng kinh tế trên khắp thế giới, và là một hình thức được hỗ trợ mạnh mẽ bởi các bằng chứng thống kê xuyên quốc gia.
Các kết quả được báo cáo trong các bài báo nổi tiếng của David Dollar (1992) và của Jeffrey Sachs và Andrew Warner(1995) về mối quan hệ giữa định hướng bên ngoài và tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào các chỉ số mức độ định giá cao. Các nghiên cứu đưa ra khuyến nghị chính sách đều cảnh báo chống lại sự định giá cao mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Trong cuộc khảo sát của William Easterly về vấn đề văn hoá tăng trưởng xuyên quốc gia, ông đồng ý rằng định giá cao đã tạo một tác động tiêu cực đến tăng trưởng (mặc dù ông vẫn hoài nghi rằng các chính sách điều tiết có những ảnh hưởng quyết định hơn). Định giá quá cao liên quan đến sự tăng trưởng chậm không được lý thuyết hóa một cách rõ ràng, nhưng hầu hết các nghiên cứu đều liên kết nó với sự không ổn định của kinh tế vĩ mô (Fishcher).
Đồng tiền bị định giá quá cao sẽ kết hợp với thiếu hụt ngoại tệ, tham nhũng và làm tài khoản vãng lai thâm hụt, khủng hoảng cán cân thanh toán và chu kỳ kinh tế vĩ mô. Tất cả đều làm tổn hại tới sự tăng trưởng. Cũng vì sự định giá cao gây khó khăn cho tăng trưởng, do đó, định giá thấp được xem là điều kiện cho tăng trưởng. Định giá thấp chính là chiến lược phát triển kinh tế hướng vào xuất khẩu.
Giả thuyết liệu nội tệ định giá thấp có khả năng trở thành chiến lược phát triển thịnh vượng cho một quốc gia hay không là mục tiêu kiểm chứng độ tin cậy của các nhà nghiên cứu bởi tỷ giá cho phép thay đổi sức cạnh tranh của các loại hàng hoá và dịch vụ sản xuất ra tại nội địa. Hàng loạt các nghiên cứu của Kreinin (1967, 1973); Haynes và Stone (1983); Bahmani - Oskooee (1986); Wilson và Takacs (1979); Marquez (1990); Mah (1993)… là các bằng chứng cho mối quan hệ tích cực giữa định giá thấp và cải thiện cán cân thương mại. Tuy nhiên, 12 cũng có trường hợp khi cán cân hàng hóa được cải thiện ở quốc gia này nhưng ngược lại ở quốc gia khác. Các nghiên cứu kiểm chứng cũng đồng nhất về mối quan hệ trực tiếp giữa định giá thấp nội tệ với tăng trưởng kinh tế.
Ricardo Hausmann, Lant Pritchett đã xác định 83 trường hợp quốc gia phát triển và đang phát triển theo đuổi chính sách định giá thấp trong giai đoạn 1960 – 2000 có tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm trên đầu người tăng 2% trở lên và bứt phá được duy trì trong ít nhất 8 năm trong thời kì đó.