Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan lý thuyết Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận 4 Chƣơng 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THỰC VÀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ 2. Tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố ảnh hƣởng đến tỷ giá hối đoái thực Về lý thuyết tỷ giá phản ánh mức giá tương đối (giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ). Khi một nước tham gia vào thương mại và các giao dịch khác với một số nước thì một chỉ số chung phản ánh giá trị chung của đồng tiền được tính dựa trên tỷ giá song phương và mức độ thương mại giữa các nước này với nước chủ nhà. Tỷ giá thực danh nghĩa được tính dựa trên cơ sở này và được định nghĩa là tỷ giá giữa đồng nội tệ với các đồng tiền ngoại tệ của các nước khác lấy quyền số là tỷ trọng thương mại hoặc thanh toán quốc tế của nước đó, với các nước kia (OECD, 2010).
Tỷ giá thực được tính dựa trên NEER và điều chỉnh để loại bỏ lạm phát. Trong đó: - t là thời gian, - n là số lượng các đối tác thương mại chính của Việt Nam, - ejt là tỷ giá danh nghĩa của đồng tiền nước j so với VND tại thời điểm t (tính theo chỉ số). - Pt là chỉ số giá hàng hóa trong nước, - Pjt là chỉ số giá hàng ở nước j 5 - Wjt là tỷ trọng của đồng tiền nước j tại thời điểm t, tương ứng với tỷ trọng thương mại của nước j trong tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam với các nước được chọn. Về thực nghiệm, chỉ số này rất hữu ích cho việc phân tích về chính sách và tình hình kinh tế vĩ mô của một nước.
REER giảm thể hiện nội tệ tăng giá và ngược lại. Trong tương quan so sánh với thời điểm gốc, khi REER < 1 nội tệ tăng giá so với thời điểm gốc, hàng hóa nội địa mất tính cạnh tranh. Ngược lại, khi REER > 1, nội tệ giảm giá so với thời điểm gốc, tính cạnh tranh của hàng hóa nội địa gia tăng. Các nhân tố tác động lên tỷ giá hối đoái thực, bao gồm: - Tỷ lệ thương mại Tỷ lệ thương mại của hàng hóa là chỉ tiêu kinh tế biểu thị mối quan hệ tỷ lệ giữa giá tương đối của hàng xuất khẩu so với hàng nhập khẩu của quốc gia đó, được tính bằng tỷ lệ giữa chỉ số giá hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu với chỉ số giá hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu của quốc gia.
Tỷ lệ thương mại thường được sử dụng để đánh giá những thay đổi trong môi trường kinh tế quốc tế. Theo Edwards (1988b) và Edwards và Wijnbergen (1987), thay đổi của tỷ lệ mậu dịch trong ngắn hạn và dài hạn có thể gây ra hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập. Do đó, tác động của TOT đối với tỷ giá hối đoái thực là không rõ ràng có thể cùng chiều (+) hoặc ngược chiều ( - ) phụ thuộc vào hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập. Đầu tiên là hiệu ứng thu nhập, dự báo rằng khi những tỷ lệ mậu dịch được cải thiện (giá xuất khẩu tăng tương đối so với giá nhập khẩu), thu nhập từ xuất khẩu sẽ tăng dẫn tới nhu cầu đối với hàng hóa phi mậu dịch tăng theo và giá hàng hóa phi mậu dịch cũng tăng, do đó dẫn đến một sự đánh giá cao đồng tiền tệ.
Tiếp theo là hiệu ứng thay thế, dự báo rằng một sự cải thiện trong tỷ lệ mậu dịch có nghĩa là nhập khẩu sẽ rẻ hơn và một phần nhu cầu trong nước với hàng hóa phi mậu dịch sẽ được thay thế bởi hàng nhập khẩu, do đó giá của hàng hóa phi mậu dịch sẽ giảm. Điều này sẽ dẫn đến sự mất giá 6 của đồng nội tệ. Như vậy tùy thuộc vào độ lớn tác động của hiệu ứng thu nhập và hiệu ứng thay thế mà tỷ giá hối đoái thực sẽ giảm (tác động của hiệu ứng thu nhập lớn hơn tác động của hiệu ứng thay thế) hay tăng (tác động của hiệu ứng thu nhập nhỏ hơn tác động của hiệu ứng thay thế) khi tỷ lệ thương mại tăng. Đối với các nước sản xuất hàng hóa, hiệu ứng thu nhập nhìn chung vượt trội hơn hiệu ứng thay thế.
Sở dĩ, tác động của hiệu ứng thay thế không đáng kể là do hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa xuất khẩu ở các quốc gia này rất khác nhau, người tiêu dùng không dễ thay thế một loại hàng hóa này bằng một loại hàng hóa khác trong rổ tiêu dùng của họ trong trường hợp có sự thay đổi về giá. Theo đó, khi tỷ lệ thương mại tăng, thông thường tỷ giá hối đoái thực sẽ giảm. - Độ mở cửa thương mại Mở cửa thương mại là một phương pháp xác định độ mở cửa của một nền kinh tế đối với thương mại thế giới và những lợi ích tăng trưởng thu nhập có được từ những hoạt động thương mại trên (Squalli, Wilson 2006). Độ mở cửa thương mại là chỉ số được sử dụng để đo lường chính sách mở cửa thương mại của một quốc gia, chính sách thương mại càng theo hướng tự do hóa, thì độ mở cửa thương mại càng lớn.
Về mặt lý thuyết các tác động của độ mở cửa thương mại đến tỷ giá là không chắc chắn và do đó không thể dự đoán được. Mở cửa thương mại có thể thay đổi khi có sự giảm thuế hoặc tăng hạn ngạch. Giảm thuế hoặc tăng hạn ngạch có thể làm giảm giá hàng hóa trong nước và do đó dẫn tới cả hiệu ứng thu nhập và thay thế. Hiệu ứng thay thế trong ngắn hạn hay dài hạn đều kích thích nhu cầu nhập khẩu hàng hóa từ đó làm tăng giá hàng hóa mậu dịch, dẫn đến sự suy giảm trong cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực giảm.
Tuy nhiên hiệu ứng thu nhập của mở cửa thương mại đến hàng phi mậu dịch là không rõ và còn tùy thuộc vào xu hướng của tiêu dùng trong nước. Nếu thu nhập tăng lên được chi nhiều hơn cho hàng hóa phi mậu dịch thì tỷ giá thực 7 đang được định giá cao. Connolly và Devereux (1995) lập luận rằng hiệu ứng thay thế của độ mở nền kinh tế chi phối hiệu ứng thu nhập trong trường hợp này. Vì vậy tăng độ mở cửa thương mại trong trường hợp này (giảm thuế hoặc tăng hạn ngạch) có thể dẫn đến tỷ giá hối đoái giảm thông qua cán cân thương mại giảm (nhập khẩu tăng).
Mặt khác nếu độ mở nền kinh tế tăng thông qua giảm thuế xuất khẩu như lập luận của Connolly và Devereux (1995), hiệu ứng thu nhập và thay thế có xu hướng biến đổi cùng chiều với xuất khẩu. Trong trường hợp này cán cân thương mại sẽ được cải thiện và dẫn tới tỷ giá thực được đánh giá cao. Do đó, chiều hướng tác động của mở cửa thương mại đến tỷ giá hối đoái thực còn phụ thuộc vào hiệu ứng thay thế và hiệu ứng thu nhập tạo ra. - Chi tiêu chính phủ Mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và tỷ giá thực đã được nghiên cứu từ trước về mặt lý thuyết và thực nghiệm.
Theo đó, chi tiêu của chính phủ tác động đến tiêu dùng tư nhân và tỷ giá hối đoái thực thông qua hai hướng: nếu chi chính phủ bao gồm phần lớn là hàng hóa phi ngoại thương, chi tiêu của chính phủ tăng sẽ làm tăng áp lực cầu nội địa, gia tăng giá tương đối của hàng hóa phi ngoại thương dẫn đến tăng tỷ giá hối đoái thực; nếu phần lớn chi tiêu chính phủ là hàng hóa ngoại thương sẽ làm cán cân thương mại xấu đi, tỷ gía hối đoái thực giảm. Vì vậy khó dự đoán hướng tác động của chi tiêu chính phủ lên tỷ giá hối đoái thực. Các nghiên cứu thực nghiệm về hướng tác động của GEXP lên tỷ giá hối đoái thực cho kết quả khác nhau. Nghiên cứu thực nghiệm của Balvers và Bergstrand (2002) trên các nền kinh tế thuộc OECD cho rằng chi tiêu chính phủ có tác động đến tỷ giá hối đoái thực qua cả hai hướng và độ lớn tác động này qua hai hướng này tương đương nhau.
Nghiên cứu của Connolly và Devereux (1995) cho thấy sự thay đổi trong tỷ giá hối đoái thực ở các nước Châu Mỹ Latinh cho giai đoạn 1960 – 1985 có thể được giải thích bởi chi tiêu của chính phủ và chi tiêu của chính phủ cũng làm tăng tỷ giá hối đoái thực 8 bằng việc chi tiêu chủ yếu vào hàng hóa phi ngoại thương. Nghiên cứu của Ricci (2008) trên 48 quốc gia (bao gồm các nước phát triển và thị trường mới nổi) kết luận 1% tăng của chi tiêu của chính phủ so với GDP sẽ làm tỷ giá hối đoái thực tăng 3%. Kết quả nghiên cứu của Edward (1998) trên 12 quốc gia đang phát triển cũng cho thấy tăng chi tiêu của chính phủ dẫn đến tỷ giá hối đoái thực tăng. Như vậy, tác động của chi tiêu của chính phủ đến tỷ giá hối đoái thực phụ thuộc vào tỷ trọng hàng hóa ngoại thương và phi ngoại thương trong cơ cấu chi tiêu của chính phủ.
- Năng suất lao động Mối quan hệ giữa năng suất lao động và tỷ giá hối đoái thực được giới thiệu đầu tiêu trong mô hình Balassa – Samuelson; còn được biết với tên gọi là hiệu ứng Balassa – Samuelson (Balassa, Samuelson, 1964). Hiệu ứng Balassa – Samuelson chỉ ra rằng năng suất lao động trong nước được tập trung vào khu vực sản xuất hàng hóa ngoại thương và khu vực sản xuát hàng hóa phi ngoại thương. Nếu sức sản xuất ở khu vực sản xuất hàng hóa ngoại thương tăng nhanh hơn (so với các nước đối tác thương mại REER sẽ tăng - Đầu tư trực tiếp nước ngoài Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên tỷ giá hối đoái phụ thuộc vào số tiền thu được từ đầu tư trực tiếp nước ngoài được sử dụng để mua hàng hóa ngoại thương hay phi ngoại thương. Nếu số tiền thu được sử dụng cho hàng hóa ngoại thương (ví dụ như nhập khẩu máy móc, nguyên liệu vật liệu) sau đó tỷ giá hối đoái thực sẽ giảm giá về giá trị thực thông qua việc làm xấu đi tình trạng của tài khoản vãng lai.
Ngược lại nếu số tiền thu được từ đầu tư trực tiếp nước ngoài được dùng để mua hàng hóa phi ngoại thương thì dẫn đến tỷ giá hối đoái thực sẽ tăng. Phản ứng của tỷ giá hối đoái thực đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài phụ thuộc vào vốn tích lũy trong các ngành công nghiệp có định hướng xuất khẩu hay các ngành công nghiệp thay thế nhập 9 khẩu.