Chương 1 - Giới thiệu chung về luận văn Chương 2 – Cơ sở lý thuyết: Trình bày cơ sở lý thuyết về mối liên kết giữa các thành phần chi tiêu công với thu nhập bình quân đầu người và cung cấp tình hình chi tiêu công/thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam hiện nay. Chương 3 – Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu: Giới thiệu về phương pháp nghiên cứu VAR, kiểm định nhân quả Granger và nguồn dữ liệu thu thập để thực hiện luận văn. Chương 4 – Phân tích dữ liệu và trình bày kết quả nghiên cứu. Chương 5 – Kết luận và kiến nghị.
HVTH: Nguyễn Thị Mỹ Hà Trang 4 Chương 2: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Chi tiêu công 2. Định nghĩa Theo Perkins (2006), chính sách tài khóa được thực hiện thông qua chính sách thuế và chi tiêu của NSNN. Chi tiêu công là tất cả các khoản chi tiêu từ ngân sách nhà nước, gồm các khoản chi thường xuyên như chi cho khu vực quản lý nhà nước gồm các khoản trả lương và các chi phí hoạt động khác, các khoản chi cho quốc phòng, an ninh, trả lãi cho các khoản vay của chính phủ và trợ cấp để bù đắp cho các khoản lỗ của các doanh nghiệp công.
Một khoản chi tiêu chủ yếu khác của chính phủ là chi đầu tư phát triển như chi phí xây dựng hệ thống kênh thủy lợi, đường sá, trường học và mua thiết bị phi quân sự cho chính phủ. Mankiw (2011) định nghĩa chi tiêu chính phủ bao gồm chi tiêu cho các hàng hóa và dịch vụ bởi chính quyền địa phương, tiểu bang và liên bang. Nó bao gồm tiền lương của những người làm khu vực chính phủ cũng như chi tiêu cho khu vực công. Chi tiêu công là các khoản chi tiêu từ NSNN và các quỹ tiền tệ khác của chính phủ nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính phủ.
Đây là các khoản chi phí cho việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ công thông qua ngân sách và các quỹ tiền tệ do chính phủ quản lý (Lê Chi Mai, 2011). Chi tiêu công phản ánh giá trị của các hàng hóa mà chính phủ mua vào để qua đó cung cấp các loại hàng hóa công cho xã hội nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước và các khoản chi tiêu này được tài trợ từ các nguồn đóng góp tài chính của xã hội như thuế, công trái (Sử Đình Thành, 2009). Chi tiêu công là các khoản chi tiêu của các cấp chính quyền, các đơn vị quản lí hành chính, các đơn vị sự nghiệp được kiểm soát và tài trợ của chính phủ. Chi tiêu công được coi là một trong những công cụ tài khóa mà chính phủ sử dụng để thực hiện các nhiệm vụ vĩ mô như khắc phục khiếm khuyết của thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh, công bằng và trật tự xã hội để phục vụ các hoạt động kinh tế, xã hội chung.
Chi tiêu công sẽ tăng lên khi đất nước rơi vào khủng hoảng cần sự trợ giúp của chính phủ để kích thích sự tăng trưởng và ổn định nền kinh tế. Tóm lại, chi tiêu công gồm các khoản chi của NSNN đã được quốc hội phê chuẩn, còn được gọi là chi tiêu chính phủ, phản ảnh chính sách của nhà nước ở mục tiêu và mức ưu tiên trong danh mục chi vì đây là nguồn lực tài chính để nhà nước thực thi chính sách của mình. Phân loại Có rất nhiều cách phân loại chi tiêu công, điển hình: HVTH: Nguyễn Thị Mỹ Hà Trang 5 Tuy nhiên, theo Nghị định số 163/2016/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2016, chi tiêu chính phủ gồm: − Chi đầu tư phát triển. Chi đầu tư xây dựng cơ bản cho các dự án theo lĩnh vực được quy định tại chi thường xuyên.
Đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích do Nhà nước đặt hàng; các tổ chức kinh tế; các tổ chức tài chính của trung ương và địa phương; đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật. − Chi dự trữ quốc gia. − Chi thường xuyên. Quốc phòng; An ninh và trật tự, an toàn xã hội; Sự nghiệp giáo dục – đào tạo và dạy nghề; Sự nghiệp khoa học và công nghệ; Sự nghiệp y tế, dân số và gia đình; Sự nghiệp văn hóa thông tin; Sự nghiệp phát thanh, truyền hình, thông tấn; Sự nghiệp thể dục thể thao; Sự nghiệp bảo vệ môi trường; Các hoạt động kinh tế; Hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội Chi bảo đảm xã hội, bao gồm cả chi hỗ trợ thực hiện các chính sách xã hội theo quy định của pháp luật; Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật.
− Chi trả lãi, phí và các chi phí phát sinh từ các khoản tiền do Chính phủ và chính quyền địa phương cấp tỉnh vay. − Chi viện trợ của ngân sách trung ương cho các Chính phủ, tổ chức ngoài nước. − Chi cho vay theo quy định của pháp luật. − Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính.
− Chi chuyển nguồn từ ngân sách năm trước sang ngân sách năm sau. − Chi bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới. Phân loại chi tiêu công theo mục đích chi tiêu hoặc tính chất kinh tế: HVTH: Nguyễn Thị Mỹ Hà Trang 6 − Chi đầu tư phát triển sử dụng chủ yếu từ NSNN và một phần từ các quỹ ngoài ngân sách để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội, đầu tư phát triển sản xuất và dự trữ hàng hóa có tính chiến lược nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế. Quy mô, cơ cấu khoản chi này phụ thuộc vào mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ và tập trung vào một số lĩnh vực chủ yếu sau: Chi đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng về kinh tế – xã hội công cộng: là khoản chi lớn trong chi đầu tư phát triển bao gồm chi đầu tư xây dựng mới, cải tạo nâng cấp các công trình không có khả năng thu hồi vốn hoặc thu hồi vốn chậm như công trình giao thông, đê điều, bệnh viện, trường học, nhà văn hóa… tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế mở rộng sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, có tính chất “mồi” để thu hút các nguồn vốn khác đầu tư cho mục tiêu công cộng.
Đầu tư cho cơ sở hạ tầng xã hội thường hướng vào đầu tư phát triển nguồn nhân lực, phát triển cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa, bảo vệ môi trường. Chi hỗ trợ các doanh nghiệp nhà nước, góp vốn cổ phần vào các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cần thiết cho nền kinh tế, đầu tư với những ngành quan trọng có quy mô lớn để dẫn dắt nền kinh tế theo mục tiêu phát triển của nhà nước. Chi dự trữ nhà nước nhằm mục đích duy trì sự phát triển cân đối và ổn định của nền kinh tế. − Chi thường xuyên: là khoản chi sử dụng thu nhập từ các quỹ tài chính công nhằm đáp ứng các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước về quản lý kinh tế – xã hội.
Chi thường xuyên có phạm vi rộng, gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước. Khoản chi này mang tính chất tiêu dùng, phụ thuộc chủ yếu vào tổ chức bộ máy nhà nước. Gồm: Chi cho các đơn vị sự nghiệp nhằm cung cấp các dịch vụ đáp ứng nhu cầu nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, tạo động lực để nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy phát triển kinh tế theo chiều sâu như chi cho hoạt động của các đơn vị kinh tế sự nghiệp, đơn vị sự nghiệp văn hóa – xã hội, hoạt động khoa học công nghệ, hoạt động giáo dục, đào tạo, y tế, hoạt động sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao, …. Chi quản lý hành chính (hoạt động quản lý nhà nước) là các khoản chi để đảm bảo hoạt động của hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương và mục đích phục vụ xã hội.
Chi cho hoạt động an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội. Khoản chi cho an ninh nhằm đảm bảo trật tự an toàn xã hội, tạo ra sự yên bình cho người dân. Chi quốc phòng nhằm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, chống lại sự xâm lấn của các thế lực bên ngoài. Chi khác: ngoài các khoản chi trên, một số khoản chi không phát sinh đều đặn và liên tục trong các tháng của năm nhưng vẫn thuộc về chi thường xuyên như HVTH: Nguyễn Thị Mỹ Hà Trang 7 chi trợ giá theo chính sách của nhà nước, chi trả lãi tiền vay do chính phủ vay, chi hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội… Ngoài ra, Mai Đình Lâm (2012) và Vũ Thị Ngọc Phùng (2005) đã khái quát các khoản chi trong NSNN được chia thành ba mục lớn: chi đầu tư phát triển (chi xây dựng cơ bản và chi đầu tư phát tiển khác), chi thường xuyên (chi cho y tế, giáo dục, hành chính, an ninh quốc phòng, sự nghiệp, khoa học công nghệ), các khoản chi khác.
Tóm lại, chi đầu tư phát triển là nhiệm vụ chi của NSNN, gồm chi đầu tư xây dựng cơ bản và một số nhiệm vụ chi đầu tư khác theo quy định của pháp luật, mang lại lợi ích cho nền kinh tế xã hội, tạo tiền đề để tăng tích luỹ, phát triển hoạt động đầu tư tài chính và đầu tư thương mại, đồng thời quyết định trực tiếp sự phát triển của nền kinh tế, là chìa khoá của sự tăng trưởng. Chi tiêu công cho giáo dục/y tế là chi tiêu từ NSNN cho các hoạt động giáo dục và đào tạo, y tế.