mở đầu của một chu trình ngân sách. Nhu cầu chi từ NSNN luôn gia tăng trong khi nguồn thu có hạn. - Nguyên tắc thứ hai: Theo nguyên tắc công bằng, nhà nước và nhân dân cùng làm cùng hưởng, đặc biệt là các khoản chi mang tính chất phúc lợi xã hội; - Nguyên tắc thứ ba: Đảm bảo yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả, sử dụng Ngân sách Nhà nước đúng mục đích, dự toán được giao. Bởi lẽ, nguồn lực thì giới hạn 9 trong khi nhu cầu con người chưa bao giờ là có giới hạn.
Do vậy trong quá trình chi tiêu phải luôn tính toán làm sao để cân đối, đạt hiệu quả một cách tốt nhất. - Nguyên tắc thứ tư: Nhà nước phải xác định được mục tiêu cần phát triển, các chương trình trọng điểm, các ngành mũi nhọn trong cả nước để tập trung Ngân sách đầu tư tránh tình trạng đầu tư dàn trải - Nguyên tắc thứ năm: Phân biệt rõ nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của các cấp theo quy định của luật; - Nguyên tắc thứ sáu: Phối hợp chặt chẽ với khối lượng tiền tệ, lãi suất, tỷ giá hối đoái. Kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước. Khái niệm Kiểm soát chi thường xuyên NSNN được hiểu là việc các cơ quan có thẩm quyền thẩm định, kiểm tra, rà soát, xem xét và đánh giá tính hợp pháp, hợp lệ của các khoản chi thường xuyên NSNN do các đơn vị sử dụng ngân sách thực hiện, dựa trên các chế độ, định mức, tiêu chuẩn do nhà nước ban hành và trên cơ sở những nguyên tắc, hình thức phương pháp quản lí tài chính trong từng giai đoạn.
Hay nói cách khác, kiểm soát chi thường xuyên NSNN là quá trình thẩm định và kiểm tra các khoản chi thường xuyên NSNN (trước, trong và sau khi thanh toán) theo đúng chế độ chi NSNN và theo dự toán chi tiêu đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua. Kiểm soát chi thường xuyên NSNN được hiểu theo hai nghĩa khách quan và chủ quan: - Theo nghĩa khách quan: Kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước được hiểu như chế định định pháp luật bao gồm tập hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình kiểm soát việc chi tiêu các khoản chi thường xuyên ở các đơn vị sử dụng ngân sách. - Theo nghĩa chủ quan: Kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước được hiểu là một loại hành vi pháp luật, do chủ thể là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện dựa trên các quy phạm pháp luật nhằm làm phát sinh những quan hệ pháp luật giữa nhà nước và các chủ thể khác, trong đó chủ yếu là đơn vị sử dụng ngân sách. Vai trò của kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước qua Kho bạc Nhà nước.
Kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước giúp kiểm tra, kiểm soát các khoản chi của các đơn vị sử dụng Ngân sách từ khâu lập dự toán đến duyệt quyết toán Ngân sách Nhà nước nhằm đảm bảo Ngân sách Nhà nước được sử dụng đúng mục đích, mục tiêu đã đề ra và có hiệu quả kinh tế - xã hội. Vì vậy kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước có những vai trò quan trọng sau: - Việc thanh toán các khoản chi thường xuyên NSNN qua KBNN phải được thực hiện trực tiếp từ KBNN cho người hưởng lương, trợ cấp xã hội và người cung cấp hàng hóa dịch vụ (trường hợp chưa thực hiện được việc thanh toán trực tiếp, KBNN thực hiện thanh toán qua đơn vị sử dụng NSNN). Tuy nhiên việc đánh giá kết quả mà đơn vị sử dụng Ngân sách thực hiện thường gặp khó khăn và nhiều khi mang tính chủ quan. Mặt khác những lợi ích mà các khoản chi mang lại ít gắn với lợi ích cụ thể, do vậy nên sự quan tâm của người sử dụng Ngân sách Nhà nước bị hạn chế.
Chính vì vậy, cần phải có một cơ quan chức năng kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện các khoản chi Ngân sách Nhà nước để đảm bảo Ngân sách Nhà nước được sử dụng một cách, tiết kiệm có hiệu quả. - Quản lý các khoản chi thường xuyên NSNN là vấn đề được quan tâm nhiều. Kiểm soát chặt chẽ các khoản chi thường xuyên có ý nghĩa quan trọng trong việc tập trung nguồn lực Tài chính để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó kiểm soát chi chặt chẽ các khoản chi giúp cho địa phương thực hiện tốt chính sách tiết kiệm chống lãng phí, chống các hiện tượng tiêu cực, từ đó góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ giúp cho nền Tài chính Quốc gia được vững mạnh hơn.
- Hội nhập kinh tế khu vục và quốc tế là xu thế tất yếu và là một yêu cầu khách quan đối với một quốc gia trên con đường phát triển. Hội nhập là sự thừa nhận và vận hành nền kinh tế Tài chính tuân thủ các nguyên tắc, thông lệ, các chuẩn mực quốc tế. Trong đó, tự do hoá, minh bạch, công khai. là những nguyên tắc cơ bản của hội nhập.
Chính vì vậy, vai trò của kiểm soát chi nhằm quản lý chặt chẽ ngân quỹ quốc gia, đảm bảo vốn được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả. Từ đó, tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đồng thời góp phần xây dựng một nền Tài chính công khai, minh bạch, đáp ứng được các yêu cầu của hội nhập. 11 - Xuất phát từ tính chất, đặc điểm của các khoản chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước là diễn ra trên phạm vi rộng, liên quan đến nhiều đối tượng trong xã hội, trong khi các văn bản, thông tư quy định việc sử dụng Ngân sách chỉ quy định những vấn đề chung nhất, không thể nêu hết được các sự việc nảy sinh trong quá trình thực hiện. Mặt các cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội thì chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cũng được đa dạng hoá điều này làm cho cơ chế quản lý chi không theo kịp với sự thay đỏi của hoạt động chi NSNN.
Tình trạng này diễn ra tạo ra những kẽ hở trong quản lý chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước tạo điều kiện nhũng nhiễu, sử dụng Ngân sách lãng phí. Vì vậy phải có cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, giám sát quá trình chi tiêu để phát hiện kịp thời các trường hợp tiêu cực, sử dụng Ngân sách chung để phục vụ cho mục đích cá nhân 1. Những vấn đề chung về ngân sách xã. Khái niệm, đặc điểm của ngân sách xã.
Chế độ phân cấp và quản lý ngân sách ở nước ta ra đời từ năm 1967, và sau này được khẳng định trong Luật Ngân sách bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương [16]. Ngân sách nhà nước được phân cấp quản lý giữa Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương là tất yếu khách quan khi tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước gồm nhiều cấp. Điều đó không chỉ bắt nguồn từ cơ chế kinh tế mà còn từ cơ chế phân cấp quản lý về hành chính. Mỗi cấp chính quyền đều có nhiệm vụ cần đảm bảo bằng những nguồn tài chính nhất định mà các nhiệm vụ đó mỗi cấp đề xuất và bố trí chi tiêu sẽ hiệu quả hơn là có sự áp đặt từ trên xuống.
Gắn với mỗi cấp chính quyền trong bộ máy tổ chức nhà nước là một cấp ngân sách. Sự tồn tại của cấp xã kéo theo sự ra đời của Ngân sách xã để quản lý các hoạt động nghiệp vụ trên địa bàn xã, duy trì sự phát triển và ổn định đời sống nhân dân. Vì vậy, việc xuất hiện của ngân sách cấp xã là một sự tồn tại khách quan. Ngân sách xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là ngân sách xã) là một cấp ngân sách cơ sở trong hệ thống NSNN, nó đại diện và đảm bảo tài chính cho chính quyền xã có thể chủ động khai thác những thế mạnh sẵn có để phát triển kinh tế, thực hiện các chính sách xã hội, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã.
12 Xét về hình thức biểu hiện, ngân sách cấp xã là toàn bộ các khoản thu chi trong dự toán đã được HĐND cấp xã quyết định và được thực hiện trong một năm, nhằm đảm bảo nguồn tài chính cho chính quyền nhà nước cấp xã trong quá trình thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình về quản lý kinh tế - xã hội trên địa bàn. Xét về bản chất, ngân sách cấp xã là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa chính quyền nhà nước cấp xã với các chủ thể khác phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính nhằm tạo lập quỹ ngân sách cấp xã, trên cơ sở đó đáp ứng các nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã 1. Trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, hệ thống NSNN ngày càng được hoàn thiện và nền tài chính quốc gia đã và đang được nâng cao hiệu quả. Song song với quá trình đó, ngân sách xã ngày càng chứng minh tầm quan trọng, tính hiệu quả trong hoạt động của mình góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế.
Ngân sách xã là một cấp ngân sách trong hệ thống ngân sách nhà nước nên nó cũng mang đầy đủ những đặc điểm của NSNN; thêm vào đó là đặc điểm riêng tạo nên sự khác biệt căn bản với các cấp ngân sách khác. * Đặc điểm chung: - Được phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi theo quy định của pháp luật; - Được quản lý và điều hành dự toán theo chế độ, tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; - Hoạt động của ngân sách cấp xã luôn gắn chặt với hoạt động chính quyền nhà nước cấp xã. - Quản lý ngân sách cấp xã nhất thiết phải tuân theo một chu trình chặt chẽ và khoa học. - Phần lớn các khoản thu, chi của ngân sách cấp xã được thực hiện theo phương thức phân phối lại và không hoàn trả một cách trực tiếp.
* Đặc điểm riêng: - Ngân sách cấp xã vừa là một cấp ngân sách cơ sở trong hệ thống NSNN, vừa là một đơn vị dự toán trực tiếp sử dụng kinh phí. Đặc điểm này có ảnh hưởng không nhỏ đến việc thiết lập các chính sách, cơ chế trong quản lý ngân sách cấp xã. 13 - Ngân sách cấp xã là một loại quỹ tiền tệ của cơ quan chính quyền Nhà nước cấp cơ sở. Hoạt động của quỹ được hoạt động trên hai phương diện thu ngân sách và chi ngân sách.