Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý chi ngân sách nhà nƣớc cấp huyện Chương 2: Thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nƣớc tại Quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh Chương 3: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nƣớc Quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh 8 Chƣơng 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ CHI NSNN CẤP HUYỆN 1.
Những vấn đề chung về chi NSNN 1. Khái niệm chi NSNN Chi NSNN là một bộ phận của NSNN. Tuy nhiên, hiện nay, thuật ngữ chi NSNN đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và tƣơng đối phức tạp về mặt ngữ nghĩa. Để tìm hiểu về chi NSNN, trƣớc hết cần nghiên cứu thuật ngữ NSNN.
* Khái niệm NSNN Nhà nƣớc sử dụng quyền lực của mình tham gia vào quá trình phân phối sản phẩm xã hội dƣới hình thức tiền tệ nhƣ thuế bằng tiền, vay nợ,…để phục vụ cho hoạt động của mình, hình thành nên ngân sách nhà nƣớc, bộ phận quan trọng nhất của khu vực tài chính nhà nƣớc. Tuy nhiên thuật ngữ NSNN chỉ thực sự xuất hiện khi nền sản xuất xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định, đó là khi phƣơng thức sản xuất tƣ bản chủ nghĩa ra đời. Lúc này, các khoản thu, chi của nhà nƣớc đƣợc thể chế hóa bằng luật pháp, tách việc thực hiện quyền lập pháp về NSNN thuộc về nghị viện và quyền hành pháp về NSNN giao cho chính phủ điều hành. Căn cứ vào biểu hiện bề ngoài thì NSNN là một bảng dự toán thu chi của nhà nƣớc trong một khoảng thời gian nhất định, thƣờng là một năm hoặc một số năm.
Hàng năm, chính phủ dự toán các nguồn thu vào quỹ NSNN, đồng thời dự toán các khoản chi cho sự nghiệp kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng, quản lý hành chính,…từ quỹ NSNN và dự toán này phải đƣợc Quốc hội phê chuẩn. Trong thực tiễn, hoạt động NSNN là hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của nhà nƣớc. Trong quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội, nguồn tài chính luôn vận động giữa một bên là nhà nƣớc bên kia là các chủ thể kinh 9 tế xã hội. Thông qua việc tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nƣớc mà một bộ phận thu nhập bằng tiền của các chủ thể đó chuyển thành thu nhập của nhà nƣớc và nhà nƣớc chuyển dịch các thu nhập đó đến các chủ thể đƣợc thụ hƣởng theo yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc.
Điều 4, Khoản 14, Luật NSNN đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 2015 quy định:“Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Nhƣ vậy có thể hiểu: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong từng thời kỳ và trong một thời gian nhất định. * Khái niệm chi ngân sách nhà nước Theo giáo trình Quản lý tài chính công (Học viện Hành chính Quốc gia, 2011) thì: “Chi NSNN là việc nhà nước phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo điều kiện vật chất để duy trì sự hoạt động và thực hiện chức năng của nhà nước và đáp ứng nhu cầu đời sống kinh tế xã hội theo các nguyên tắc nhất định”. Nhƣ vậy, phạm vi chi ngân sách nhà nƣớc là rất rộng, bao trùm mọi lĩnh vực đời sống, liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến mọi đối tƣợng.
Dƣới góc độ kinh tế, chi NSNN là nguồn lực chủ yếu để tạo ra hàng hóa, dịch vụ công nhằm giải quyết những vấn đề quan trọng mà khu vực tƣ nhân không muốn làm hoặc không có khả năng làm đƣợc. Hay nói cách khác, chi NSNN phản ánh giá trị của các hàng hóa mà chính phủ mua vào để qua đó cung cấp các loại hàng hóa công cho xã hội nhằm thực hiện các chức năng của nhà nƣớc. 10 Với cách phân tích nhƣ trên, theo tác giả, có thể hiểu: Chi ngân sách nhà nước là việc sử dụng và phân phối các quỹ Ngân sách nhà nước nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụcủa Nhà nước trong từng thời kỳ. Vai trò của chi ngân sách nhà nƣớc Cùng với tín dụng nhà nƣớc và các quỹ tài chính nhà nƣớc ngoài ngân sách, NSNN là một bộ phận cấu thành của tài chính công.
Trong đó NSNN là bộ phận cơ bản, quan trọng nhất. Chi NSNN không chỉ đảm bảo nguồn lực tài chính cho hoạt động của bộ máy nhà nƣớc để quản lý xã hội mà còn là công cụ để nhà nƣớc điều tiết vĩ mô nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội. Thứ nhất, chi NSNN bảo đảm kinh phí hoạt động của bộ máy nhà nƣớc bằng việc ban hành các chính sách chi cho bộ máy sao cho có sự phù hợp giữa quyền lợi và trách nhiệm, đảm bảo tái sản xuất sức lao động, tạo cơ sở để xây dựng bộ máy hành chính trong sạch đồng thời đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, giúp cho ngân sách đƣợc sử dụng minh bạch. Hệ thống chi hành chính trong cơ chế thị trƣờng đƣợc kiểm soát chặt chẽ thông qua các công cụ quản lý nhƣ quản lý theo sản phẩm đầu ra đối với dịch vụ công do bộ máy nhà nƣớc cung cấp; kế hoạch chi tiêu trung hạn; quản lý theo chƣơng trình, dự án.
Thứ hai, chi NSNN đảm bảo kinh phí để nhà nƣớc thực hiện chức năng quản lý xã hội. Thông qua hệ thống các chính sách, giải pháp, nhà nƣớc quyết định cơ cấu chi, tác động đến sự phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực, tạo môi trƣờng cạnh tranh cho các thành phần kinh tế cùng cung cấp dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú và đòi hỏi chất lƣợng cao của ngƣời dân. NSNN đảm bảo tài trợ cho những dịch vụ mà khu vực tƣ nhân không muốn đảm nhận hoặc không đủ khả năng thực hiện. Thứ ba, Nhà nƣớc sử dụng công cụ chi NSNN tác động vào việc phát triển nền kinh tế khi cần thiết nhƣ điều tiết thị trƣờng, giải quyết các vấn đề về 11 tăng trƣởng, lạm phát, thất nghiệp, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng xã hội, phát triển cân đối giữa các vùng, lãnh thổ, ngành kinh tế, cung cấp hàng hóa, dịch vụ công và giải quyết những vấn đề quan trọng trong tiến trình toàn cầu hóa.
Khi kinh tế càng phát triển, nguồn ngân sách càng dồi dào thì chi NSNN càng có điều kiện để phát huy vai trò quan trọng của nó. Phân loại chi ngân sách nhà nƣớc Hệ thống chi NSNN rất đa dạng, phong phú và luôn biến động theo tình hình kinh tế xã hội và chính trị. Nhằm phân tích đánh giá quản lý và định hƣớng các khoản chi, ngƣời ta tiến hành phân loại các khoản chi NSNN theo những tiêu thức khác nhau. Phân loại các khoản chi NSNN là việc sắp xếp các khoản chi NSNN có cùng tính chất, cùng mục đích thành các loại chi.
Có nhiều tiêu thức để phân loại các khoản chi NSNN theo những mục tiêu quản lý nhất định, ở đây chỉ nêu một số tiêu thức chủ yếu. - Căn cứ vào chức năng quản lý của nhà nƣớc, NSNN đƣợc chi cho các hoạt động: chi xây dựng cơ sở hạ tầng, cho hệ thống giáo dục, chi cho hệ thống an sinh xã hội, hệ thống quản lý nhà nƣớc, chi cho hệ thống quân đội và an ninh, chi khác. - Căn cứ theo tính chất kinh tế phân thành hai loại là chi thƣờng xuyên và chi đầu tƣ phát triển. - Căn cứ quy trình lập ngân sách, chi ngân sách đƣợc phân ra thành chi theo các yếu tố đầu vào (mua tài sản, chi tiền lƣơng và các khoản phụ cấp, chi bằng tiền khác) và chi theo yếu tố đầu ra (chi ngân sách dựa vào khối lƣợng công việc đầu ra và kết quả tác động đến mục tiêu hoạt động của đơn vị).
- Theo Luật NSNN năm 2015, chi NSNN bao gồm: chi đầu tƣ phát triển, chi dự trữ quốc gia, chi thƣờng xuyên, chi trả nợ lãi, chi viện trợ và các 12 khoản chi khác theo quy định của pháp luật (chi chuyển nguồn ngân sách sang năm sau; chi bổ sung cân đối ngân sách, bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dƣới, chi cho vay, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính, chi viện trợ,…). Chi ngân sách cấp huyện trong hệ thống NSNN Ngân sách nhà nƣớc ở Việt Nam gồm ngân sách trung ƣơng và ngân sách địa phƣơng. Ngân sách địa phƣơng gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phƣơng, bao gồm ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện và ngân sách cấp xã. Ngân sách mỗi cấp đƣợc phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể.
* Nguyên tắc phân cấp quản lý ngân sách nhƣ sau: (1) Ngân sách trung ƣơng giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chi quốc gia, hỗ trợ địa phƣơng chƣa cân đối đƣợc ngân sách và hỗ trợ các địa phƣơng theo quy định. (2) Ngân sách địa phƣơng đƣợc phân cấp nguồn thu đảm bảo chủ động thực hiện các nhiệm vụ chi đƣợc giao. HĐND cấp tỉnh quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách ở địa phƣơng phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn. (3) Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do cấp đó đảm bảo; việc ban hành và thực hiện chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách phải có giải pháp bảo đảm nguồn tài chính, phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng cấp.
Trƣờng hợp cơ quan quản lý nhà nƣớc thuộc ngân sách cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nƣớc thuộc ngân sách cấp dƣới thực hiện nhiệm vụ chi của mình thì phải phân bổ và giao dự toán cho cơ quan cấp dƣới 13 đƣợc ủy quyền để thực hiện nhiệm vụ chi đó. Cơ quan nhận kinh phí ủy quyền phải quyết toán với cơ quan ủy quyền khoản kinh phi này. (4) Thực hiện phân chia theo tỉ lệ phần trăm đối với các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách và số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dƣới trên cơ sở đảm bảo công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng các địa phƣơng.