Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về tự chủ tài chính đối với trƣờng đại học công lập Chương 2: Thực trạng tự chủ tài chính tại trƣờng Đại học Khoa học- Đại học Thái Nguyên Chương 3: Hoàn thiện tự chủ tài chính tại trƣờng Đại học Khoa học- Đại học Thái Nguyên ix CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1. Khái niệm, đặc điểm về trƣờng đại học công lập Khái niệm Theo Luật Giáo dục đại học ban hành tháng 6 năm 20212 và luật Giáo dục đại học sửa đổi năm 2018, trƣờng ĐHCL là cơ sở Giáo dục ĐHCL thuộc sở hữu nhà nƣớc, do Nhà nƣớc đầu tƣ xây dựng, cung cấp trang thiết bị dạy học, bố trí cán bộ, công chức quản lý và đội ngũ nhà giáo giảng dạy… thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chƣơng trình, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng. Đặc điểm Các trƣờng ĐHCLcó các đặc điểm riêng, ảnh hƣởng tới quyết định cơ chế tài chính của trƣờng đại học đối với hoạt động đào tạo, NCKH và các hoạt động khác của nhà trƣờng. Trƣờng ĐHCL khác với các trƣờng CSGDĐH ngoài công lập về mục đích hoạt động các đặc điểm đó là: Một là: Về mục đích hoạt động; Đã nói đến quản lý công thì hoạt động không vì mục đích lợi nhuận mà thay vào đó quản lý tài chính công trong các trƣờng ĐHCL gắn liền với mục đích không vì lợi nhuận.
Các đơn vị này có trách nhiệm đào tạo và nghiên cứu khoa học, đào tạo và bồi dƣỡng đội ngũ trí thức, đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật có trình độ chuyên môn giỏi đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển kinh tế của đất nƣớc. Hoạt động quản lý trong các trƣờng ĐHCL phải đem lại mục tiêu chung cho cộng đồng. Trƣờng ĐHCL do nhà nƣớc đầu tƣ xây dựng, cung cấp trang thiết bị dạy học, bố trí cán bộ quản lý và đội ngũ nhà giáo giảng dạy và nhà nƣớc thống nhất quản lý về mục tiêu, chƣơng trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, qui chế thi cử và hệ thống văn bằng. Kinh 1 phí hoạt động thƣờng xuyên của trƣờng ĐHCL chủ yếu do NSNN cấp, bên cạnh đó, trƣờng có thêm kinh phí từ nguồn thu học phí, lệ phí và thu khác đƣợc giữ lại để đáp ứng nhu cầu chi thƣờng xuyên của trƣờng.
Các trƣờng ĐHCL là các đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm một phần hay toàn bộ kinh phí hoạt động thƣờng xuyên. Các trƣờng ĐHCL đƣợc quyền chủ động trong công tác đào tạo nhƣ : xây dựng đề cƣơng, giáo trình môn học, kế hoạch giảng dạy và học tập đối với các ngành nghề đƣợc phép đào tạo; tổ chức tuyển sinh theo chỉ tiêu của Bộ GD & ĐT, thực hiện tổ chức đào tạo, công nhận tốt nghiệp và cấp văn bằng theo thẩm quyền. Cũng nhƣ đơn vị sự nghiệp, trƣờng ĐHCL là đơn vị sự nghiệp công lập có thu đƣợc nhà nƣớc trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính. Việc trao quyền tự chủ cho các trƣờng ĐHCL nhằm giúp các trƣờng chủ động trong việc thực hiện nhiệm vụ đƣợc giao.
Hoạt động tài chính nhằm thực hiện các nhiệm vụ đào tạo do Nhà nƣớc giao để tạo ra nguồn lực lao động có chất lƣợng cho xã hội. Hai là: Về cơ chế quản lý và bộ máy tổ chức hoạt động; Trƣờng ĐHCL do chính quyền thành lập nên chịu sự quản lý, kiểm tra, giám sát về tổ chức bộ máy, hoạt động hành chính theo quy định của Nhà nƣớc hoặc chính quyền các cấp. Bộ máy quản lý, điều hành của trƣờng đại học công lập đƣợc tổ chức phù hợp với điều kiện cụ thể của từng trƣờng nhƣng phải tuân thủ các quy định về lĩnh vực này trong các văn bản pháp luật của Nhà nƣớc hoặc địa phƣơng. Bộ máy quản lý điều hành của trƣờng ĐHCL thƣờng có Hội đồng trƣờng, Ban Giám hiệu, các phòng chức năng và khoa đào tạo, viện nghiên cứu chuyên ngành.
Hoạt động của Hội đồng trƣờng trong các trƣờng đại học công lập đƣợc quy định trong văn bản pháp luật và có tính chất khác với Hội đồng quản trị trong các trƣờng đại học tƣ thục. Ba là: Về nguồn tài chính và cơ chế quản lý tài chính; Các trƣờng ĐHCL còn có đặc điểm quan trọng là sở hữu thuộc về Nhà nƣớc. Các trƣờng đại học công lập do Nhà nƣớc thành lập và đầu tƣ kinh phí 2 để xây dựng và hoạt động nên tính chất hoạt động của các trƣờng đại học công lập thƣờng không vì mục đích lợi nhuận. Về nguồn kinh phí: (i) Nhà nƣớc cấp kinh phí đầu tƣ cơ sở vật chất, bảo đảm chi phí hoạt động thƣờng xuyên để thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn đƣợc giao; (ii) trƣờng đƣợc phép thu một số khoản phí, lệ phí (đƣợc coi là nguồn thu thuộc NSNN), mức thu học phí bị khống chế trong khung quy định của Nhà nƣớc; (iii) trƣờng tổ chức hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ để có nguồn thu khác.
NSNN chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng nguồn tài chính của trƣờng đại học công lập. Bốn là: Về cơ chế quản lý tài chính; Các trƣờng ĐHCL đƣợc tự chủ trong khuôn khổ quy định. Các trƣờng đƣợc tự chủ tối đa ở một số khoản chi nhất định; nhƣng đồng thời phải tuân thủ các khoản mục chi đã đƣợc ấn định bởi cơ quan phân bổ và giao dự toán. Điều này chƣa cho phép các trƣờng đại học công lập thực hiện đƣợc chính sách ƣu đãi đối với ngƣời dạy và ngƣời học hoặc tập trung đầu tƣ để nâng cao chất lƣợng.
Nhƣ vậy, trƣờng đại học công lập là một thiết chế vô cùng quan trọng của xã hội và trong bối cảnh của nền kinh tế tri thức toàn cầu, trách nhiệm của trƣờng đại học ngày càng quan trọng đối với sự phát triển của đất nƣớc. Đồng thời các trƣờng đại học có tính tự chủ rất cao trong các hoạt động học thuật, trong phƣơng thức tổ chức quản lý và đào tạo,… Nhận thức về vai trò, sứ mạng và đặc điểm của trƣờng đại học là nền tảng để hoạch định chính sách giáo dục đại học, quyết định một cơ chế quản lý (trong đó bao gồm cả cơ chế quản lý tài chính) phù hợp để các trƣờng đại học hoạt động thực sự có chất lƣợng, đáp ứng đƣợc nhu cầu và kỳ vọng của cả xã hội. Tổng quan về tự chủ tài chính tại trƣờng ĐHCL 1. Khái niệm tự chủ tài chính tại trƣờng ĐHCL Để hiểu rõ về tự chủ tài chính, chúng ta cần hiểu thấu đáo các khái niệm: Tự chủ, tự chủ tài chính, tự chủ đại học.
3 - Tự chủ là việc tự điều hành, quản lý mọi công việc của cá nhân hoặc của tổ chức, không bị cá nhân, tổ chức khác chị phối. - Cơ chế quản lý tài chính là hệ thống các nguyên tắc, luật định, chính sách, chế độ về quản lý tài chính và mối quan hệ tài chính giữa các đơn vị dự toán các cấp với cơ quan chủ quan và cơ quan quản lý nhà nƣớc. - Tự chủ đại học là nói đến quyền tự do của các trƣờng Đại học và mức độ tự do đƣợc đƣa ra các quyết định riêng và những điều bắt buộc các trƣờng Đại học phải thực hiện trong việc sử dụng quyền tự do này. Bản chất của tự chủ là sự phân chia quyền lực từ Nhà nƣớc tới các trƣờng Đại học.
Phạm vi của quyền tự chủ thay đổi theo thời gian nhƣng nó đều gắn với lĩnh vực học thuật, quản trị điều hành, pháp luật và những vấn đề tài chính. Tự chủ tài chính thực chất là một cơ chế quản lý tài chính mà ở đó thì trƣờng của đơn vị đƣợc trao quyền tự chủ phát triển và mở rộng cung ứng các hoạt động dịch vụ. Nhƣ vậy, qua những khái niệm và phân tích ở trên , tôi xin đƣa ra khái niệm cơ chế tự chủ tài chính tại các trƣờng ĐHCL: - Cơ chế tự chủ tài chính tại các trƣờng ĐHCL là cơ chế quản lý nhằm tăng cƣờng quyền tự chủ, nâng cao tính tự chịu trách nhiệm cho các trƣờng ĐHCL có thu về các mặt hoạt động tài chính, tổ chức bộ máy và sắp xếp lao động, qua đó nâng cao chất lƣợng hoạt động cung cấp dịch vụ công của trƣờng. - Theo quy định tại điều 3 nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 thì “Cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công” là các quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính của đơn vị sự nghiệp công.
Các cơ sở giáo dục công lập ( các trƣờng ĐHCL) đƣợc cơ quan nhà nƣớc thành lập là đơn vị sự nghiệp công, do đó cơ chế tự chủ tài chính của các trƣờng đại học công lập là các quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính của các sơ sở giáo dục ĐHCL. 4 Vai trò thực hiện tự chủ tài chính của trƣờng Đại học công lập Việc thực hiện cơ chế tự chủ tại các CSGDĐHCL mở ra cơ hội cho các trƣờng nâng cao nguồn lực tài chính từ khai thác nguồn thu, chủ động trong sắp xếp bộ máy tổ chức, tuyển dụng lao động theo nhu cầu. Thành lập, giải thể các bộ phận trực thuộc phù hợp, tinh gọn và đảm bảo hoạt động hiệu quả, tiết kiệm chi phí và khai thác tối đa nguồn thu từ hoạt động cung cấp dịch vụ công và các hoạt động dịch vụ khác. Các trƣờng đƣợc chủ động đầu tƣ trang thiết bị cơ sở vật chất, chủ động trong hoàn thiện, đổi mới các chƣơng trình đào tạp, nâng cao chất lƣợng đào tạo, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
Thực hiện cơ chế tự chủ trong các CSGDĐHCL không những làm giảm gánh nặng NSNN, còn tạo cơ hội cho các cơ sở đào tạo phát huy tính sáng tạo, chủ động đổi mới trong giáo dục đào tạo, nâng cao thu nhập cho cán bộ giảng viên, tạo động lực trong công tác giảng dạy và nghiên cứu, từ đó góp phần phát triển ngành giáo dục quốc gia. Trƣớc sự phát triển của nền kinh tế, xu hƣớng hội nhập quốc tế đặc biệt là hội nhập trong lĩnh vực giáo dục và nhu cầu của ngƣời dân về nâng cao chất lƣợng giáo dục đại học.