Nghiên cứu về tự chủ tài chính tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang - Luận văn tốt nghiệp 2021

Khám phá luận văn tốt nghiệp về tự chủ tài chính tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang, phân tích các giải pháp và thách thức trong quản lý tài chính.

Trường đại học

Học viện Tài chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn tốt nghiệp

2021

62
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI BỆNH VIỆN CÔNG LẬP

1.1. BỆNH VIỆN CÔNG LẬP VÀ TÀI CHÍNH BỆNH VIỆN CÔNG LẬP

1.1.1. Bệnh viện công lập

1.1.2. Nguồn tài chính và nội dung chi của bệnh viện công lập

1.2. CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI BỆNH VIỆN CÔNG LẬP

1.2.1. Khái niệm và đặc điểm cơ chế tự chủ tài chính đối với bệnh viện công lập

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỰ CHỦ TÀI CHÍNH Ở BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG

3. CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN TỰ CHỦ TÀI CHÍNH Ở BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỨC GIANG

PHỤ LỤC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tự chủ tài chính tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang

Tự chủ tài chính tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang là một chủ đề quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Bệnh viện Đa khoa Đức Giang, một trong những cơ sở y tế công lập, đã thực hiện cơ chế tự chủ tài chính từ năm 2018. Điều này không chỉ giúp bệnh viện nâng cao hiệu quả hoạt động mà còn tạo điều kiện cho việc cải thiện chất lượng dịch vụ y tế. Tự chủ tài chính cho phép bệnh viện chủ động trong việc huy động và sử dụng nguồn lực tài chính, từ đó nâng cao khả năng phục vụ người bệnh.

1.1. Khái niệm tự chủ tài chính trong bệnh viện công lập

Tự chủ tài chính trong bệnh viện công lập được hiểu là quyền tự quyết định về tài chính, bao gồm việc huy động và sử dụng nguồn thu, chi tiêu và phân phối kết quả hoạt động. Điều này giúp bệnh viện có thể hoạt động hiệu quả hơn, đồng thời đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân.

1.2. Lợi ích của tự chủ tài chính tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang

Việc thực hiện tự chủ tài chính mang lại nhiều lợi ích cho Bệnh viện Đa khoa Đức Giang. Đầu tiên, bệnh viện có thể chủ động trong việc quản lý tài chính, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Thứ hai, tự chủ tài chính giúp bệnh viện tăng cường khả năng cạnh tranh với các cơ sở y tế khác, đặc biệt là các bệnh viện tư nhân.

II. Những thách thức trong việc tự chủ tài chính tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang

Mặc dù tự chủ tài chính mang lại nhiều lợi ích, nhưng Bệnh viện Đa khoa Đức Giang cũng phải đối mặt với nhiều thách thức. Các vấn đề như quản lý chi phí, đảm bảo chất lượng dịch vụ và duy trì nguồn thu ổn định là những khó khăn lớn. Đặc biệt, việc cạnh tranh với các bệnh viện tư nhân đòi hỏi bệnh viện phải không ngừng cải tiến và nâng cao chất lượng dịch vụ.

2.1. Vấn đề quản lý chi phí trong tự chủ tài chính

Quản lý chi phí là một trong những thách thức lớn nhất mà Bệnh viện Đa khoa Đức Giang phải đối mặt. Việc kiểm soát chi phí hiệu quả không chỉ giúp bệnh viện duy trì hoạt động mà còn đảm bảo chất lượng dịch vụ y tế cho người bệnh.

2.2. Cạnh tranh với các bệnh viện tư nhân

Cạnh tranh với các bệnh viện tư nhân là một thách thức lớn đối với Bệnh viện Đa khoa Đức Giang. Các bệnh viện tư nhân thường có nguồn lực tài chính mạnh hơn và có khả năng cung cấp dịch vụ tốt hơn, điều này đòi hỏi bệnh viện công lập phải cải tiến và nâng cao chất lượng dịch vụ để thu hút người bệnh.

III. Phương pháp cải thiện tự chủ tài chính tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang

Để cải thiện tự chủ tài chính, Bệnh viện Đa khoa Đức Giang cần áp dụng một số phương pháp hiệu quả. Việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, huy động nguồn thu từ dịch vụ y tế và tăng cường đào tạo cho đội ngũ cán bộ tài chính là những giải pháp quan trọng.

3.1. Xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ hiệu quả

Xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ là một trong những giải pháp quan trọng giúp Bệnh viện Đa khoa Đức Giang quản lý tài chính hiệu quả hơn. Quy chế này cần được thiết lập dựa trên các quy định của Nhà nước và thực tiễn hoạt động của bệnh viện.

3.2. Huy động nguồn thu từ dịch vụ y tế

Huy động nguồn thu từ dịch vụ y tế là một trong những phương pháp quan trọng giúp Bệnh viện Đa khoa Đức Giang tăng cường khả năng tài chính. Bệnh viện cần phát triển các dịch vụ y tế chất lượng cao để thu hút người bệnh và tăng nguồn thu.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang

Kết quả nghiên cứu cho thấy việc thực hiện tự chủ tài chính tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Bệnh viện đã cải thiện được chất lượng dịch vụ y tế, đồng thời tăng cường khả năng tài chính và nâng cao thu nhập cho cán bộ viên chức.

4.1. Kết quả đạt được từ tự chủ tài chính

Việc thực hiện tự chủ tài chính đã giúp Bệnh viện Đa khoa Đức Giang nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Bệnh viện đã có thể đầu tư vào cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế, từ đó cải thiện trải nghiệm của người bệnh.

4.2. Những hạn chế và nguyên nhân

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng Bệnh viện Đa khoa Đức Giang vẫn gặp phải một số hạn chế trong việc tự chủ tài chính. Nguyên nhân chủ yếu là do nguồn thu chưa ổn định và việc quản lý chi phí còn nhiều bất cập.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho tự chủ tài chính tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang

Kết luận, tự chủ tài chính tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang là một bước tiến quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Định hướng tương lai cần tập trung vào việc cải thiện quản lý tài chính, nâng cao chất lượng dịch vụ và tăng cường nguồn thu.

5.1. Định hướng phát triển tự chủ tài chính

Định hướng phát triển tự chủ tài chính tại Bệnh viện Đa khoa Đức Giang cần tập trung vào việc cải thiện quy trình quản lý tài chính và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Bệnh viện cần xây dựng các kế hoạch dài hạn để đảm bảo sự phát triển bền vững.

5.2. Kiến nghị thực hiện các giải pháp

Để thực hiện các giải pháp cải thiện tự chủ tài chính, Bệnh viện Đa khoa Đức Giang cần có sự hỗ trợ từ các cơ quan chức năng. Các kiến nghị cần được đưa ra để đảm bảo bệnh viện có đủ nguồn lực và điều kiện để thực hiện tự chủ tài chính hiệu quả.

16/08/2025
Tự chủ tài chính ở bệnh viện đa khoa đức giang luận văn tốt nghiệp

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI BỆNH VIỆN CÔNG LẬP 1. BỆNH VIỆN CÔNG LẬP VÀ TÀI CHÍNH BỆNH VIỆN CÔNG LẬP 1. Bệnh viện công lập 1. Khái niệm và đặc điểm bệnh viện công lập BVCL là bệnh viện do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, có tư ̣ vu ̣ y tế cho xã hội và thực cách pháp nhân, có chức năng KCB cung cấ p dich hiện các nghiệp vu ̣ chuyên môn về y tế theo quy đinh.

̣ Mục đích cơ bản của BVCL là chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, xác định đặt mục tiêu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân lên trên mục tiêu lợi nhuận. BVCL có các đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, BVCL là bệnh viện thuộc sở hữu Nhà nước, được phân bố phù hợp với sự phân cấp hành chính theo vùng, lãnh thổ và theo tuyến chuyên môn kỹ thuật,. BVCL có thể còn go ̣i là bệnh viện Nhà nước bởi đây là những bệnh viện do cơ quan Nhà nước có thẩ m quyề n đứng ra thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công hoặc phục vụ quản lý nhà nước trong các lĩnh vực chuyên môn y tế. BVCL đươ ̣c phân cấ p hành chính và phân bổ theo tuyế n chuyên môn giúp hệ thố ng bệnh viện hoa ̣t động rải đề u khắ p nơi và thực hiện đầ y đủ các chức năng nhiệ m vu ̣ của mình.

Thứ hai, BVCL hoạt động với mục đích là chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ 4 cho nhân dân, do đó BVCL xác định đặt mục tiêu CSSK cho nhân dân trên mục tiêu lợi nhuận. Trong hoạt động BVCL, lơị ích xã hội luôn được đặt cao hơn so với lơị ích kinh tế. Tuy nhiên, cùng với công tác chuyên môn thì công tác quản lý tài ̣ tới hiệ u chính BVCL cũng đóng vai trò vô cùng quan tro ̣ng, có tính quyế t đinh quả hoa ̣t động cũng như sự phát triể n BVCL. Thứ ba, hoạt động KCB trong BVCL là một loại hình dịch vụ công đặc biệt.

Các BVCL thực hiện cung ứng dịch vụ KCB, điều trị bệnh liên quan trực tiếp đến sức khoẻ của người dân. Cũng giống như các hoạt động giáo dục, các BVCL phải thực hiện chiến lược phát triển con người, đảm bảo quyền được chăm sóc y tế của người dân, chăm sóc sức khoẻ cho các đối tượng chính sách xã hội (người có công với cách mạng, người nghèo, người tàn tật,…) đảm bảo cho họ được tiếp cận các dịch vụ y tế cần thiết. Ngoài ra, trong quá trình cung ứng dịch vụ y tế, các chi phí KCB, điều trị bệnh phục vụ trực tiếp cho cá nhân do đó mang tính chất tiêu dùng cá nhân. Nghiên cứu bản chất hàng hoá trong kinh tế, hoạt động cung cấp dịch vụ KCB của BVCL mang tính chất hàng hoá dịch vụ công cộng không thuần tuý, có thể xã hội hoá cụ thể người sử dụng sẽ phải bỏ ra một phần chi phí và tương ứng với chất lượng dịch vụ tốt thì chi phí bỏ ra phải nhiều hơn.

Với quan điểm dịch vụ y tế trong BVCL là một loại hình dịch vụ công có thể xã hội hoá, việc cung cấp các dịch vụ y tế căn bản và dịch vụ y tế gia tăng cho người dân đều phải tính được chi phí, giá thành của dịch vụ, phải đầu tư vào dịch vụ y tế đó và đưa ra được giá cả của dịch vụ đó. Bên cạnh đó, trong bối cảnh cạnh tranh với các bệnh viện tư nhân với tay nghề bác sỹ cao, dịch vụ tốt cũng là động lực thúc đẩy BVCL phải đổi mới, nâng cao năng lực để cạnh tranh hiệu quả, thu hút hơn đối với người bệnh. Do đó, dịch vụ y tế BVCL cung ứng cũng phải tính toán được doanh thu, chi phí, có quan 5 điểm phục vụ rõ ràng, nâng cao hiệu quả các HĐSN y tế bệnh viện. Thứ tư, BVCL có nhiệm vụ thực hiện các chính sách xã hội do Nhà nước giao.

BVCL thực hiện các nhiệm vụ, chính sách xã hội do nhà nước giao, đây là đặc điểm khác biệt so với các loại hình bệnh viện khác. Các nhiệm vụ, chính sách xã hội nhà nước giao cho BVCL như: KCB miễn phí hoặc giảm phí cho các đối tượng người nghèo, trẻ em, người có hoàn cảnh khó khăn, tham gia các hoạt động phòng chống dịch bệnh và dập dịch, thiên tai thảm họa, tham gia nghĩa vụ quân sự,. Đây là một đặc điể m khác biệt với các loa ̣i hình bệnh viện khác. Phân loại bệnh viện công lập Căn cứ vào cơ quan trực thuộc, BVCL bao gồm: - Các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế; - Các bệnh viện trực thuộc địa phương quản lý; - Các bệnh viện trực thuộc các bộ khác.

Căn cứ vào mức độ tự bảo đảm kinh phí hoạt động, BVCL bao gồm: - Bệnh viện tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển từ nguồn quỹ phát triển HĐSN, nguồn vốn vay và các nguồn hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. - Bệnh viện tự bảo đảm chi thường xuyên là tổ chức có nguồn thu HĐSN tự bảo đảm toàn bộ chi thường xuyên hoặc cung cấp dịch vụ KCB có giá, phí tính đủ chi thường xuyên (chưa bao gồm chi phí khấu hao tài sản cố định) theo quy định của đơn vị có thẩm quyền. - Bệnh viện tự bảo đảm một phần chi thường xuyên là bệnh viện có nguồn thu từ hoạt động KCB bảo đảm một phần chi thường xuyên, phần còn lại được NSNN hỗ trợ. - Bệnh viện được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên là bệnh viện có nguồn thu thấp hoặc không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên 6 theo chức năng, nhiệm vụ được giao do NSNN bảo đảm toàn bộ.

Nguồn tài chính và nội dung chi của bệnh viện công lập 1. Nguồn tài chính của bệnh viện công lập Một là, nguồn NSNN cấp. Đây là nguồn vốn quan trọng nhất cho hoạt động của các bệnh viện. Cho đến nay thì các bệnh viện nhận được một khoản kinh phí được cấp từ NSNN căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, biên chế tổ chức của bệnh viện.

Nguồn vốn NSNN cấp cho bệnh viện căn cứ vào dự toán ngân sách hàng năm do bệnh viện trình lên cơ quan quản lý tài chính cấp trên. Nguồn vốn này được giữ tại Kho bạc nhà nước, khi bệnh viện công muốn chi sử dụng nguồn vốn này thì phải có giấy ủy nhiệm chi được lãnh đạo của bệnh viện phê duyệt, các khoản chi phải đúng theo danh mục được chi do luật Ngân sách và các quy định của cơ quan có thẩm quyền quy định. NSNN cấp thông thường bao gồm 4 loại cơ bản sau: + Kinh phí thường xuyên. + Kinh phí nghiệp vụ.

+ Kinh phí xây dựng cơ bản. + Kinh phí Nhà nước giao khác. Hai là, nguồn viện phí và bảo hiểm y tế. Nguồn thu BHYT là một phần ngân sách của SNYT của Nhà nước giao cho bệnh viện quản lý và sử dụng để đảm bảo chất lượng KCB.

Đối với các đối tượng được hưởng BHYT, sau mỗi quý cơ quan giám định BHYT sẽ đánh giá các chi phí KCB của từng bệnh nhân đúng các danh mục được hưởng BHYT sau đó quyết toán phần chi trả BHYT của bệnh nhân cho bệnh viện. Hiện nay, phần nhiều các cơ sở KCB công lập chỉ được thu một phần viện phí gồm có: tiền thuốc, dịch truyền, máu, hóa chất, xét nghiệm, phim Xquang, vật tư tiêu hao thiết yếu, dịch vụ KCB, ngoài ra các khoản mục như: 7 khấu hao TSCĐ, chi phí hành chính, NCKH, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị lớn không được phép đưa vào viện phí. Giá viện phí hiện nay do liên Bộ Tài chính và Bộ Y tế quy định. Đối với người bệnh điều trị nội trú, biểu giá thu viện phí được tính theo ngày giường nội trú của từng chuyên khoa theo phân hạng bệnh viện và các khoản chi phí khác được sử dụng trực tiếp cho người bệnh.

Người bệnh ngoại trú thì được tính theo số lần khám bệnh và các dịch vụ kỹ thuật mà người bệnh sử dụng trực tiếp tại bệnh viện. Đối với việc KCB theo yêu cầu thì mức viện phí được tính trên mức đầu tư của bệnh viện cho cơ sở KCB theo yêu cầu đó và được phê duyệt bởi cấp có thẩm quyền. Theo quyết định 538/QĐ – TTg ngày 29/3/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện lộ trình thực hiện tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân giai đoạn 2012 – 2015 và 2020, do đó nguồn thu từ BHYT và viện phí sẽ là nguồn thu chính của tất cả các BVCL. Ba là, nguồn tài trợ, các nguồn thu khác.

Các nguồn tài trợ, các nguồn thu khác của các BVCL cũng được Chính phủ quy định là một phần NSNN mà Chính phủ giao cho bệnh viện chịu trách nhiệm quản lý. Tuy nhiên, khi sử dụng các nguồn tài trợ này bệnh viện phải cử các kế toán riêng theo dõi và theo những quy định từ nhà tài trợ. Nội dung chi của bệnh viện công lập Một là, chi phí về tiền lương, phụ cấp và các khoản trích theo lương. Đây là một khoản chi thường xuyên của bệnh viện, bao gồm các khoản lương, phụ cấp, các khoản trích nộp theo lương: BHYT, BHXH, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn; là khoản bù đắp hao phí sức lao động, đảm bảo duy trì quá trình tái sản xuất sức lao động cho cán bộ viên chức bệnh viện.

Các khoản chi phí này tương đối ổn định, biến động không nhiều. Mức chi chỉ thay đổi khi các chế độ về mức lương cơ bản, mức đóng các khoản trích nộp theo lương thay đổi theo quy định của Nhà nước. Hiện nay, phần nhiều với BVCL 8 nội dung chi này vẫn do NSNN cấp. Trong thời gian tới nếu thực hiện tự chủ hoặc tự chủ từng phần về tài chính, khoản mục chi này của các BVCL cũng phải theo các quy định chung đã nêu ở trên.

Hai là, chi phí quản lý hành chính. Bao gồm các khoản chi cho điện nước, văn phòng phẩm, thông tin liên lạc, hội nghị, nhiên liệu. Nhóm này mang tính chất gián tiếp nhằm duy trì sự hoạt động của bộ máy quản lý của bệnh viện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ