Chương 1: Giới thiệu: Trình bày tóm lược vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết: Trình bày cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước liên quan đến nghiên cứu. Trình bày giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu: Trình bày quy trình nghiên cứu.
Giới thiệu các phương pháp nghiên cứu. Đề xuất mô hình nghiên cứu và mô tả dữ liệu nghiên cứu, nguồn dữ liệu được lấy để thực hiện nghiên cứu. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu: Trình bày tổng quan quá trình đô thị hóa tại Việt Nam. Trình bày phân tích thống kê mô tả, kết quả phân tích của các mô hình kinh tế lượng.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Trình bày kết luận và gợi ý chính sách liên quan. Nêu hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của nghiên cứu. Luận văn tốt nghiệp Học viên thực hiện: Trần Thị Mến 5 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương này, nghiên cứu trình bày cơ sở lý thuyết kinh tế học liên quan đến tăng trưởng kinh tế, đô thị hóa và mối quan hệ giữa đô thị hóa và tăng trưởng kinh tế.
Đồng thời trình bày về các nghiên cứu trước có liên quan đến nội dung nghiên cứu. Từ cơ sở lý thuyết và kế thừa các nghiên cứu trước, đưa ra các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu.1 Khái niệm đô thị hoá Đô thị hoá chứa đựng nhiều hiện tượng và biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Vì vậy, đô thị hoá được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau: Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp (Từ điển Bách khoa Việt Nam, 1995). Theo khoản 1, điều 1 của thông tư số 34/2009/TT-BXD ngày 30/09/2009 của Bộ Xây Dựng: “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn”.
Từ góc độ nhân khẩu học và địa lý kinh tế, đô thị hóa được hiểu là sự di cư từ nông thôn tới đô thị, là sự tập trung ngày càng nhiều dân cư sống trong những vùng lãnh thổ đô thị. Mức độ đô thị hóa của một quốc gia được đo bằng tỉ lệ dân cư đô thị trong tổng số dân. Như vậy, tỷ lệ tăng sự tập trung dân cư nông thôn sống trong khu vực đô thị sẽ là một chỉ báo để đo tốc độ đô thị hóa của một quốc gia. Về mặt xã hội, đô thị hóa được hiểu là quá trình tổ chức lại môi trường cư trú của con người.
Đô thị hóa không chỉ thay đổi sự phân bố dân cư và những yếu tố vật chất, mà còn làm chuyển hóa những khuôn mẫu của đời sống kinh tế - xã hội, phổ biến là lối sống đô thị tới các vùng nông thôn, và toàn bộ xã hội. Như vậy, quá trình đô thị hóa không chỉ diễn ra về mặt số lượng như tăng trưởng dân số, mở rộng lãnh thổ, tăng trưởng về sản xuất, mà còn thể hiện cả về mặt chất lượng, nâng cao mức Luận văn tốt nghiệp Học viên thực hiện: Trần Thị Mến 6 sống, làm phong phú hơn các khuôn mẫu và nhu cầu văn hóa (Nguyễn Duy Thắng, 2009). Gotham (2012) cho rằng, đô thị hóa là sự di cư của người nông dân từ nông thôn đến làm việc tại các nhà máy ở khu vực đô thị.2 Đặc điểm đô thị hoá Cho đến thế kỷ 20, quá trình đô thị hóa thế giới chủ yếu diễn ra theo bề rộng, ở đó các dấu hiệu về sự tăng trưởng số dân đô thị, số lượng các thành phố, sự mở rộng lãnh thổ các đô thị - chiếm ưu thế. Nửa sau của thế kỷ được đánh dấu bởi quá trình đô thị hóa theo chiều sâu, đặc biệt ở các nước công nghiệp phát triển.
Sự gia tăng của các dấu hiệu định lượng chững lại, thậm chí sút giảm (do phi tập trung hóa đô thị, quá trình đô thị hóa. Thay vào đó, các dấu hiệu định tính được chú ý đề cao: Chất lượng, tiêu chuẩn sống đô thị được nâng cao, sự đa dạng và phong phú các kiểu mẫu văn hóa và nhu cầu. Tuy nhiên, đối với các nước thuộc thế giới thứ ba, quá trình đô thị hóa vẫn còn nằm trong khuôn khổ của quá trình đô thị hóa theo bề rộng (Tổng cục thống kê, 2011). Bên cạnh đó, đô thị là nơi tập trung nhiều vấn đề và có tính toàn cầu về kinh tế xã hội như: Thứ nhất, vấn đề môi trường: Tốc độ tăng quá nhanh về công nghiệp hoá và đô thị hoá dẫn đến phá huỷ một phần môi trường sinh thái, gây ô nhiễm môi trường, trong khi khắc phục các sự cố rất chậm chạp, không đầy đủ vì nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân quan trọng là tài chính hạn chế, nhận thức chưa đầy đủ.
Thứ hai, vấn đề dân số: Tốc độ gia tăng quá nhanh về dân số và dân số đô thị, hai hướng chuyển dịch dân cư là chuyển dịch theo chiều rộng và theo chiều sâu diễn ra song song. Thứ ba, vấn đề tổ chức không gian và môi trường: Quy mô dân số đô thị tập trung quá lớn so với trình độ quản lý, dẫn đến không điều hoà gây bế tắc trong tổ chức môi trường sống đô thị. Đo lường đô thị hóa Bloom và ctg (2010) đã đưa ra công thức tính đô thị hoá như sau: Trong bất kỳ khoảng thời gian t, PU và PR biểu thị cho dân số đô thị và nông thôn tương ứng. Một biện pháp thường được sử dụng để xác định mức độ đô thị hóa là tỷ lệ của dân Luận văn tốt nghiệp Học viên thực hiện: Trần Thị Mến 7 số sống ở khu vực đô thị biểu thị bởi Urbant, và được định nghĩa theo công thức như sau: PUT Urbant = PUT + PRT Theo định nghĩa các chỉ số thống kê của World Bank, đô thị là tỷ lệ dân số thành thị trên tổng dân số, dùng để chỉ những người sống ở các khu vực đô thị theo quy định của cơ quan thống kê quốc gia.
Như vậy, giá trị tỷ lệ dân số thành thị của tỉnh/ thành phố trên tổng dân số của tỉnh/ thành phố (Urban) được dùng làm biến đại diện cho mức độ đô thị hóa của một tỉnh/ thành phố. Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế Cùng với kết quả tăng trưởng và phát triển nhanh chóng của kinh tế thế giới thời gian qua, các nghiên cứu của kinh tế học và kinh tế phát triển đều có xu hướng tìm hiểu về quá trình tăng trưởng, chú ý nhiều hơn vào vai trò của công nghệ và sự tích lũy các yếu tố sản xuất. Ngay từ thế kỷ 17 và thế kỷ 19, các nhà kinh tế học như Adam Smith, David Ricardo, Lohn Stuard Mill, Thomas Malthus, Joseph Schumpeter, Karl Marx,… đều hướng sự chú ý vào tăng trưởng kinh tế và vai trò của tăng trưởng kinh tế đối với phúc lợi xã hội. Trong khi đó, từ cuối thập niên của thế kỷ 19 đến đầu thập niên của thế kỷ 20, hầu như các mô hình kinh tế đều dựa vào khung phân tích tĩnh, với giả định “các yếu tố khác không đổi”, tập trung phân tích hiệu quả kinh tế và sự phân bổ tối ưu các nguồn lực khan hiếm cho trước.
Các nghiên cứu về khả năng gia tăng các nguồn lực khan hiếm và cải tiến công nghệ (liên quan đến các phân tích động) nhằm tăng sản lượng và vấn đề phúc lợi gần như bị bỏ qua (Mai Đình Lâm, 2012). Cuối thế kỷ 19, xuất hiện nhiều quốc gia đạt được quá trình tăng trưởng và tính ổn định, bền vững của quá trình này, Alfred Marshall và các nhà kinh tế học vi mô hướng sự tập trung nghiên cứu vào hiệu quả kinh tế và phân bổ nguồn lực. Cho đến cuộc đại khủng hoảng kinh tế những năm 1929 - 1933, J.Keynes (1936) với mô Luận văn tốt nghiệp Học viên thực hiện: Trần Thị Mến 8 hình kinh tế vĩ mô nhằm vào ổn định hoá kinh tế, giải quyết tình trạng năng lực sản xuất thừa, vấn đề toàn dụng nhân công và sản lượng, chú trọng tới những xử lý nền kinh tế trong “ngắn hạn” chứ không phải là khái niệm “dài hạn”. Tiếp theo là trường phái mô hình tuyến tính về các giai đoạn phát triển, hai mô hình tiêu biểu cho trường phái này là Rostow và Harrod - Domar.
Đặc điểm chung của nhóm lý thuyết này là nhấn mạnh đến quá trình phát triển kinh tế phải đi qua từng giai đoạn nhất định và nhấn mạnh đến quá trình tích lũy vốn. Xem tích lũy vốn như là một điều kiện để quốc gia phát triển. Trường phái về lý thuyết thay đổi cơ cấu, mô hình đại diện là của Lewis (2014) và Chenery (1968), các mô hình này đặc biệt xem sự chuyển dịch cơ cấu trong nền kinh tế là quan trọng và điều này có thể tạo ra tăng trưởng cho nền kinh tế. Chính vì thế, sự chuyển dịch cơ cấu giữa thành thị và nông thôn, giữa các ngành công nghiệp, cơ cấu tiêu dùng,… là những chủ đề chính mà các nghiên cứu của trường phái này tập trung.
Tiếp đó là trường phái quan hệ phụ thuộc quốc tế, khác với hai trường phái trên, họ đều tập trung phân tích nguyên nhân cũng như chính sách phát triển từ chính nội địa của quốc gia. Trường phái quan hệ phụ thuộc quốc tế nhấn mạnh đến các yếu tố bên ngoài quốc gia, như viện trợ, đầu tư nước ngoài,… là những tiền đề cần phải có để thúc đẩy phát triển một đất nước, đặc biệt là các nước đang có trình độ phát triển thấp. Mô hình này còn có cách gọi khác là mô hình tăng trưởng ngoại sinh, bởi vì không liên quan đến các nhân tố bên trong, rốt cục tăng trưởng của một nền kinh tế sẽ hội tụ về một tốc độ nhất định ở trạng thái bền vững. Chỉ các yếu tố bên ngoài, đó là công nghệ và tốc độ tăng trưởng lao động mới thay đổi được tốc độ tăng trưởng kinh tế ở trạng thái bền vững.
Mô hình này chứng minh rằng trong dài hạn nền kinh tế có xu hướng tiến đến trạng thái cân bằng với mức tăng trưởng liên tục và đều.