CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu về cải cách hệ thống ngân hàng Vấn đề cải cách hệ thống ngân hàng thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, đặc biệt là khi các cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế tác động nghiêm trọng làm tỉ lệ nợ xấu tăng cao, đe dọa đến hệ thống ngân hàng (HTNH) của các quốc gia. Những nghiên cứu về cải cách hệ thống ngân hàng nói chung chủ yếu tập trung vào phân tích các dấu hiệu cho thấy hệ thống ngân hàng đang có vấn đề; nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng của hệ thống ngân hàng; và các biện pháp cải cách hệ thống ngân hàng trên thế giới thời gian qua. - Trong số các nghiên cứu về khủng hoảng hệ thống ngân hàng trên thế giới, tiêu biểu có thể kể đến các nghiên cứu của một số chuyên gia của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) như: Nghiên cứu của IMF cho thấy các cách tiếp cận phổ biến về cải cách hệ thống ngân hàng theo thông lệ quốc tế.
Cách thứ nhất, theo nghiên cứu của IMF (1999), cải cách hệ thống ngân hàng nhằm đạt được 03 mục tiêu: (i) Củng cố hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thông qua việc bảo đảm khả năng thanh toán và khả năng sinh lời; (ii) Cải thiện năng lực thực hiện chức năng trung gian tài chính của hệ thống ngân hàng; và (iii) Khôi phục niềm tin của công chúng. Cách thứ hai, theo nghiên cứu của Waxman (1998), cải cách ngân hàng có thể nhằm giải quyết vấn đề của một ngân hàng đổ vỡ ngay trong điều kiện của hệ thống ngân hàng đang hoạt động hiệu quả. Sự khác biệt giữa hai cách tiếp cận này là ở đối tượng cải cách là toàn bộ hệ thống ngân hàng hay chỉ những khâu yếu nhất của hệ thống này. - Một số nghiên cứu tập trung vào nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng của hệ thống ngân hàng của các nước trên thế giới như: Các nghiên cứu của Goldstein và Turner (1996); Klingebiel và Caprio (1996) đã chỉ ra 3 nhóm nguyên nhân dẫn tới khủng hoảng của hệ thống ngân hàng.
Thứ nhất, các yếu tố vi mô, gồm: (i) Các quy định và thực tiễn hoạt động ngân hàng yếu kém, đặc biệt là tình trạng thiếu vốn, vi phạm chính sách cho vay; (ii) Mâu thuẫn giữa chủ sở hữu và người điều hành, đặc biệt là các chính sách thưởng để khuyến khích cho vay mà không chú ý tới rủi ro có thể gặp phải; và (iii) Trình độ của nhân viên hạn chế, đặc biệt trong việc áp dụng công nghệ mới. Thứ hai, các yếu tố vĩ mô, như sự biến động mạnh về giá cả hoặc các yếu tố kinh tế vĩ mô như nền kinh tế tăng trưởng nóng. Thứ ba, các yếu tố có tính hệ thống, đặc biệt môi trường hoạt động không thuận lợi như: (i) Số lượng lớn các ngân hàng Nhà nước dẫn đến tình trạng bóp méo xu hướng cho vay, thu hút tiền gửi và cạnh tranh, cũng như 7 hạn chế khả năng đa dạng hóa hoạt động của các ngân hàng; (ii) Chính phủ định hướng chặt chẽ về tín dụng làm hạn chế các ngân hàng phát triển kỹ năng đánh giá các khoản cho vay; (iii) Hệ thống pháp luật không đầy đủ làm hạn chế hiệu quả của hệ thống ngân hàng (như về chính sách an toàn và minh bạch thông tin); (iv) Các quy định và cơ chế giám sát không đầy đủ và hiệu quả; và (v) Thị trường chứng khoán chưa phát triển, đặc biệt là đối với các chứng khoán dài hạn (khi đó, các ngân hàng sẽ phải cung cấp các khoản vay dài hạn và tập trung quá nhiều rủi ro). - Các nghiên cứu của Dziobek và Pazarbasioglu (1997, 1998) về các biện pháp cải cách hệ thống ngân hàng trên thế giới thời gian qua.
Các tác giả đã nghiên cứu trên một tập hợp gồm 24 quốc gia đại diện từ các khu vực khác nhau trên thế giới và với trình độ phát triển hệ thống tài chính – ngân hàng khác nhau. Khảo sát chính sách tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tại 24 quốc gia trong những năm 1980s và những năm đầu 1990s, Dziobek và Pazarbasioglu (1998) đã liệt kê những chính sách cụ thể được áp dụng phổ biến tại các nước: (i) Chính phủ bơm vốn hoặc mua cổ phiếu để nắm giữ quyền điều hành các ngân hàng thương mại (quốc hữu hóa một phần); (ii) Đóng cửa các ngân hàng yếu kém; (iii) Sáp nhập các ngân hàng trong nước với ngân hàng nuớc ngoài; (iv) Sáp nhập các ngân hàng trong nuớc với nhau; (v) Thành lập công ty quản lý tài sản; (vi) Thay đổi cơ cấu sở hữu ngân hàng thông qua tư nhân hóa. Đồng thời nghiên cứu cũng cho rằng không có chính sách đơn lẻ nào chứng tỏ tính ưu việt tới hiệu quả tái cơ cấu so với các chính sách khác. Bản thân hiệu quả của từng chính sách phụ thuộc vào các yếu tố thể chế và pháp lý đặc thù của mỗi nước.
Do vậy việc sử dụng một tổ hợp chính sách được coi là sự lựa chọn hợp lý cho việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng của các quốc gia. Trong một nghiên cứu trước đó, Dziobek và Pazarbasioglu (1997) đã phân tích một tập hợp mẫu đại diện gồm 24 quốc gia trên 6 khu vực lãnh thổ trong khoảng thời gian từ 1980 đến 1995, từ đó phát hiện những yếu tố tạo nên thành công của một quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng. Theo nghiên cứu, 24 quốc gia được lựa chọn đã sử dụng trung bình 8 công cụ để thực hiện tái cấu trúc. Trong đó, các công cụ tốt nhất được nhận diện liên quan đến những chính sách sau: Vai trò của ngân hàng trung ương trong việc dẫn dắt công cuộc chuyển đổi tại các nước; kế hoạch xử lý nợ xấu; chính sách đóng cửa các TCTD thông qua mua bán, sáp nhập hoặc cho phá sản; tư nhân hóa; tái cấu trúc doanh nghiệp; các chính sách khuyến khích đối với nhà quản lý và chủ sở hữu.
Hai nghiên cứu của Dziobek và Pazarbasioglu nói trên cũng đã tổng quát hóa những bài học kinh nghiệm về cải cách hệ thống ngân hàng tại các quốc gia như: (i) 8 Đánh giá đúng bản chất và phạm vi những vấn đề của hệ thống ngân hàng là một yếu tố quan trọng của quá trình tái cấu trúc – cần có phương pháp tiếp cận toàn diện (trên các khía cạnh: Giải quyết ngân hàng yếu kém, giải quyết những sai sót trong hệ thống kế toán và khuôn khổ pháp lý, tăng cường quản trị doanh nghiệp và quản trị rủi ro); (ii) Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng cần có một đơn vị đi đầu (thường là ngân hàng trung ương) nhằm thiết kế các thước đo kết quả của quá trình tái cấu trúc và tách biệt nhiệm vụ, quyền lợi của các ngân hàng phải tái cơ cấu đối với những ngân hàng còn lại trong hệ thống và luôn sẵn sàng để hỗ trợ thanh khoản khi cần thiết trong suốt quá trình tái cơ cấu này; (iii) Chính phủ cần có chính sách đóng cửa hoặc hỗ trợ tài chính đối với các ngân hàng yếu kém – nguyên tắc chia sẻ tổn thất giữa Chính phủ, các ngân hàng, và công chúng là một phần quan trọng cho thành công của quá trình tái cấu trúc; (iv) Việc loại bỏ nợ xấu ra khỏi bảng cân đối của các ngân hàng và chuyển các khoản nợ đó sang một tổ chức khôi phục nợ độc lập là một phương pháp hiệu quả được các quốc gia sử dụng, đồng thời, cũng là phương thức để giảm thiểu chi phí của quá trình tái cấu trúc ngân hàng và gửi tín hiệu đến những đối tượng vay nợ vị phạm. - Nghiên cứu của Daniela Klingebiel (2000) về việc sử dụng các công ti quản lý tài sản trong giải quyết các cuộc khủng hoảng nợ xấu ngân hàng – Kinh nghiệm xuyên quốc gia. Nghiên cứu đã phân tích những lợi thế và bất lợi của các AMC trong việc quản lý và xử lý tài sản nợ xấu ngân hàng; đồng thời đánh giá hiệu quả của các tổ chức này, thông qua việc phân tích kinh nghiệm sử dụng các công ty quản lý tài sản để xử lý nợ xấu ngân hàng của nhiều quốc gia trên thế giới. Nghiên cứu tập trung vào 7 trường hợp: Phần Lan, Ghana, Thụy Điển, Mexico, Philippines, Tây Ban Nha và Mỹ.
Nghiên cứu cũng phân biệt 2 loại AMC chính: Các AMC được thành lập để giúp đỡ và xúc tiến tái cấu trúc doanh nghiệp và các AMC được thành lập để xử lý tài sản được mua/được chuyển giao cho chính phủ trong cuộc khủng hoảng. Nghiên cứu đã chỉ ra, các AMC có thể được sử dụng hiệu quả, nhưng chỉ với mục đích giải quyết các thể chế tài chính vỡ nợ không thể kiểm soát được. Còn đối với các khoản cho vay có động cơ chính trị hoặc tài sản gian lận thì các AMC khó có thể giải quyết được. Trong phần II của nghiên cứu đã xem xét việc xử lý tài sản có vấn đề trong các cuộc khủng hoảng ngân hàng bằng các giải pháp chứng khoán hóa và so sánh hiệu quả của việc sử lý nợ xấu ngân hàng bằng các AMC và bằng biện pháp chứng khoán hóa nợ xấu.
- Các nghiên cứu về hoạt động tín dụng, rủi ro tín dụng, chất lượng tín dụng: Nghiên cứu của World Bank (2006); Glen Bullivant (2010), và rất nhiều nghiên cứu 9 khác đã chỉ ra rằng nguyên nhân phá sản của ngân hàng bắt đầu từ nợ xấu tăng cao, chất lượng tài sản kém. Các nghiên cứu khai thác nhiều khía cạnh về rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng của các NHTM trên thế giới trước và sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, tổng kết nhiều vấn đề mang tính thực tiễn cao. Tuy nhiên, các tài liệu nói trên là các nghiên cứu xuất phát từ các nước phát triển (Mỹ, Anh, Úc và Đức) nên ít gắn với thực tiễn Việt Nam. - Nghiên cứu của Strauss-Kahn (2009) cho rằng, khi các quốc gia đối mặt với khủng hoảng kinh tế và đang theo đuổi các chính sách khôi phục, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, đặc biệt là những ngân hàng yếu kém, là một trong những ưu tiên hàng đầu.