Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ kinh tế: "Cải cách hệ thống ngân hàng Nhật Bản giai đoạn 1990 – 2005 và một số hàm ý cho Việt Nam" được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu lý luận và thực tiễn đặt ra đối với hệ thống tài chính - ngân hàng của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế và tái cơ cấu kinh tế.
-
Tính cấp thiết của đề tài:
Trải qua hơn 30 năm đổi mới, hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam giữ vai trò trung gian tài chính chủ đạo cung ứng vốn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, việc gia nhập WTO cùng tiến trình mở cửa thị trường tài chính đã tạo ra áp lực cạnh tranh gay gắt từ các định chế tài chính quốc tế (Mỹ, Châu Âu, Singapore, Nhật Bản). Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 – 2009 đã bộc lộ những tổn thương và điểm yếu nội tại của hệ thống tài chính nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, do thị trường chứng khoán chưa phát triển đồng bộ, gánh nặng cung cấp vốn trung và dài hạn chủ yếu dồn lên hệ thống NHTM. Quá trình tái cơ cấu kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng tại Việt Nam gặp nhiều khó khăn về ngân sách nhà nước và tỷ lệ nợ xấu gia tăng.
Trong bối cảnh đó, hệ thống tài chính Nhật Bản có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam: cấu trúc tài chính dựa trên thị trường vốn gián tiếp (ngân hàng là nguồn cung ứng vốn chủ yếu cho doanh nghiệp), tính chất khép kín, định hướng quan hệ truyền thống và sự can thiệp bảo hộ của chính phủ. Kinh nghiệm xử lý khủng hoảng nợ xấu và cải cách hệ thống ngân hàng Nhật Bản trong giai đoạn 1990 – 2005 (thời kỳ "Thập kỷ mất mát") cung cấp các bài học thực tiễn cần thiết để Việt Nam xây dựng, điều chỉnh chính sách tái cơ cấu hệ thống ngân hàng.
-
Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu, đánh giá một cách hệ thống, toàn diện và khách quan về tiến trình cải cách hệ thống ngân hàng ở Nhật Bản giai đoạn 1990 – 2005; rút ra những bài học kinh nghiệm, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy tiến trình cải cách hệ thống ngân hàng ở Việt Nam trong giai đoạn 2020 – 2030 nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế.
-
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nhiệm vụ thứ nhất: Làm sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn tiến hành cải cách hệ thống ngân hàng Nhật Bản giai đoạn 1990 – 2005, cũng như sự cần thiết phải tiến hành cải tổ hệ thống ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2020 – 2030.
- Nhiệm vụ thứ hai: Nghiên cứu thực tiễn cải cách hệ thống ngân hàng Nhật Bản giai đoạn 1990 – 2005; phân tích những thành tích đạt được cùng những tồn tại Nhật Bản phải đối mặt, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
- Nhiệm vụ thứ ba: Nghiên cứu thực tế cải cách hệ thống ngân hàng Việt Nam, đặc biệt giai đoạn từ sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 2008 đến năm 2019.
- Nhiệm vụ thứ tư: Trên cơ sở nghiên cứu thực tế ở Nhật Bản và Việt Nam, đề xuất một số giải pháp cho cải cách hệ thống ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2020 – 2030.
-
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về cải cách hệ thống ngân hàng của một quốc gia và bài học kinh nghiệm.
- Phạm vi nội dung: Hoạt động cải cách hệ thống ngân hàng ở Nhật Bản và những tác động tới nền kinh tế; hàm ý và giải pháp cải cách đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam, trọng tâm là hệ thống NHTM.
- Phạm vi không gian: Hệ thống ngân hàng Nhật Bản và Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Đối với Nhật Bản, nghiên cứu tập trung vào giai đoạn 1990 – 2005, trải qua 4 giai đoạn khủng hoảng: 1992 – 1993 (giai đoạn I), 1995 (giai đoạn II), 1997 – 1999 (giai đoạn III) và 2001 – 2002 (giai đoạn IV). Đối với Việt Nam, nghiên cứu tập trung vào thực trạng giai đoạn 2011 – 2019 (giai đoạn thực thi Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD 2012 – 2020) và đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2020 – 2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba nhóm chủ đề chính:
1. Nghiên cứu quốc tế về cải cách hệ thống ngân hàng và xử lý khủng hoảng nợ xấu
- Mục tiêu và cách tiếp cận cải cách: Báo cáo của IMF (1999) xác định 3 mục tiêu của cải cách ngân hàng gồm củng cố khả năng thanh toán/sinh lời, cải thiện năng lực trung gian tài chính và khôi phục niềm tin công chúng. Waxman (1998) phân biệt hai cách tiếp cận: cải cách toàn bộ hệ thống hoặc xử lý cục bộ khâu yếu nhất khi hệ thống chung vẫn vận hành ổn định.
- Nguyên nhân khủng hoảng: Goldstein và Turner (1996), Klingebiel và Caprio (1996) phân loại ba nhóm nguyên nhân gây khủng hoảng: vi mô (thiếu vốn, vi phạm cho vay, bất cân xứng đại diện, năng lực nhân sự), vĩ mô (tăng trưởng nóng, biến động giá) và hệ thống (thị trường tài chính thiếu hoàn thiện, luật pháp thiếu đồng bộ). Strauss-Kahn (2009) chỉ ra các dấu hiệu cảnh báo như tín dụng tăng nhanh hơn GDP, nợ nước ngoài cao, dự trữ ngoại hối mỏng và quản trị rủi ro yếu kém. Keeton, Morris (1987), Sinkey, Greenwalt (1991), Keeton (1999), Aqsa Javed và Muhammad Kashif Khurshid (2016) chứng minh mối quan hệ thuận chiều giữa tăng trưởng tín dụng quá nóng kết hợp hạ thấp tiêu chuẩn tín dụng với tỷ lệ nợ xấu.
- Công cụ và chính sách tái cơ cấu: Dziobek và Pazarbasioglu (1997, 1998) nghiên cứu mẫu 24 quốc gia giai đoạn 1980 – 1995, chỉ ra 6 chính sách phổ biến và khẳng định việc phối hợp tổ hợp chính sách có tính quyết định thay vì một công cụ đơn lẻ. Daniela Klingebiel (2000) nghiên cứu hiệu quả của công ty quản lý tài sản (AMC) qua 7 trường hợp (Phần Lan, Ghana, Thụy Điển, Mexico, Philippines, Tây Ban Nha, Mỹ). Ben Fung, Jason George, Stefan Hohl và Guonan Ma (2004) khảo sát các AMC tại Đông Á (Trung Quốc với 4 AMC của 4 NHTM nhà nước, IBRA của Indonesia, RCC của Nhật Bản, KAMCO của Hàn Quốc, DANAHARTA của Malaysia, TAMC của Thái Lan). Lee Myung-bak (2009) tổng kết bài học xử lý khủng hoảng của Hàn Quốc với gói tài chính công 127,6 tỷ USD (tương đương 32,4% GDP năm 1997) và mô hình phối hợp giữa KAMCO cùng Tổng công ty Bảo hiểm tiền gửi Hàn Quốc. Luc Laeven và Fabián Valencia (2012) phân tích các biện pháp can thiệp có tính hệ thống (hỗ trợ thanh khoản, quốc hữu hóa, bảo lãnh nợ, mua tài sản tối thiểu 5% GDP). Borish, Long và Noel (2012), Matoušek và Sergi (2005), Alicia García và Herrero Daniel Santabárbara (2004) nghiên cứu đặc thù xử lý nợ xấu tại các nền kinh tế chuyển đổi (Trung và Đông Âu, Trung Quốc).
2. Nghiên cứu về cải cách hệ thống ngân hàng Nhật Bản
- Thực trạng nợ xấu và cơ chế công bố: Maximilian J. B. Hall (2000) phân tích việc Bộ Tài chính Nhật Bản (MOF) công bố nợ xấu 77 nghìn tỷ yên vào tháng 1/1998 và sau đó nâng lên 87,5 nghìn tỷ yên vào tháng 4/1998 theo yêu cầu minh bạch của Cơ quan Giám sát Tài chính (FSA). Kimura Takeshi (2001) chỉ ra trách nhiệm của các cơ quan quản lý khi trì hoãn xử lý các khoản vay bất động sản và xây dựng lớn.
- Chính sách ứng phó và vai trò của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ): Hiroshi Nakaso (2001), Cargill, Hutchison và Ito (2000), Masahiro Kawai (2004) phân tích các phản ứng chính sách từ khi bong bóng tài sản sụp đổ đầu thập niên 1990 tới khủng hoảng 1997 – 1998 và giai đoạn tái cấu trúc sau đó. Báo cáo thường niên của BOJ (2005 – 2015) ghi nhận các biện pháp điều hành tiền tệ đặc thù. Gerdesmeier, Mongelli và Roffia (2009) so sánh thể chế của BOJ với FED, ECB và BOE. Lê Trần (2010) đánh giá chỉ số độc lập của BOJ chỉ ở mức 2,5 (thấp hơn Thụy Sỹ và Đức ở mức 4, Mỹ ở mức 3,5). Nguyễn Hương Giang (2010) phân tích tính độc lập của NHTW Nhật Bản và New Zealand.
- Tác động của mối quan hệ ngân hàng - doanh nghiệp và chương trình cải cách: Brewer, Genay, Hunter và Kaufman (2003) kiểm định tác động định giá thị trường từ sự sụp đổ của các ngân hàng Nhật Bản năm 1997 – 1998 đối với các doanh nghiệp liên kết. R. Vollmer rich (2009) so sánh giám sát ngân hàng giữa Nhật Bản và Đức. Ủy ban Kinh tế APEC (2017) phân tích Chương trình cải cách Koizumi. Phạm Quý Long (2017, 2018) đánh giá các công cụ tài chính tiền tệ trong chính sách Abenomics và tác động lan tỏa.
3. Nghiên cứu về cải cách hệ thống ngân hàng tại Việt Nam
-
Trần Quang Minh và Ngô Xuân Bình (2004), Nguyễn Hồng Sơn (2012), Viện Quản lý kinh tế Trung ương nghiên cứu tái cấu trúc hệ thống tài chính và nguyên tắc áp dụng kinh nghiệm quốc tế.
-
Nguyễn Thị Hoài Phương (2012) nghiên cứu quy trình quản lý nợ xấu tại các NHTM. Vũ Thành Tự Anh (2013) sử dụng lý thuyết đại diện để phân tích thực trạng sở hữu chéo giữa tổ chức tín dụng và tập đoàn kinh tế.
-
Tô Ánh Dương (2013), Đào Duy Huân (2013), Hoàng Trần Hậu (2014), Đinh Thanh Tâm và Nguyễn Thế Tùng (2015) phân tích thực trạng tái cơ cấu NHTM, thị trường mua bán nợ và so sánh cơ chế hoạt động giữa VAMC với DATC.
-
Trần Thọ Đạt (2014) đánh giá Đề án 254 và đề xuất 6 khía cạnh hoàn thiện khuôn khổ pháp lý. Nguyễn Đức Thành và Vũ Minh Long (2014) sử dụng bộ chỉ số ổn định tài chính (FSIs) để đánh giá các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2012. Đinh Mai Long (2018) phân tích kinh nghiệm cải cách ngân hàng Trung Quốc.
-
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
Các nghiên cứu trước đây thường tiếp cận cải cách ngân hàng lồng ghép trong tổng thể kinh tế vĩ mô hoặc đi sâu vào từng nghiệp vụ kỹ thuật riêng rẽ (như quản trị nợ xấu vi mô, thị trường mua bán nợ). Các công trình về Nhật Bản phần lớn dừng lại ở giai đoạn ngay sau khủng hoảng 1997 – 1998 hoặc nghiên cứu chính sách Abenomics ở tầm vĩ mô, chưa có công trình nào xâu chuỗi toàn diện tiến trình cải cách hệ thống ngân hàng Nhật Bản xuyên suốt giai đoạn 1990 – 2005 để rút ra các bài học mang tính hệ thống, đối chiếu trực tiếp với điều kiện thể chế của hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2020 – 2030.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1. Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Khái niệm và đối tượng: Hệ thống ngân hàng được cấu thành từ NHTW, hệ thống NHTM, ngân hàng chính sách/phát triển và các tổ chức tín dụng vi mô. Cải cách hệ thống ngân hàng theo nghĩa rộng là tái cấu trúc toàn diện các bộ phận cấu thành; theo nghĩa hẹp là xử lý các tổ chức yếu kém có nguy cơ đổ vỡ (Waxman, 1998).
- Chủ thể và nguồn lực thực hiện: Theo Hawkins (1999) và IMF (2004), việc cải cách đạt hiệu quả cao khi được điều phối bởi một cơ quan độc lập có đủ thẩm quyền pháp lý thay vì giao độc quyền cho NHTW nhằm tránh xung đột lợi ích. Nguồn lực tài chính bao gồm tái cấp vốn công, xử lý nợ xấu, ngân sách giải quyết đổ vỡ và chi phí nâng cao năng lực quản trị.
- Các nhân tố tác động: Bao gồm nhóm nhân tố khách quan (môi trường kinh tế, chính trị, xã hội, tính đồng bộ của môi trường pháp lý) và nhóm nhân tố chủ quan (năng lực tài chính, năng lực quản trị điều hành, trình độ công nghệ thông tin và chất lượng nguồn nhân lực).
- Tiêu chí đánh giá hiệu quả cải cách: Dựa trên khung tiêu chuẩn của Barth J. (2003), IMF (2005) và tổng hợp của Nguyễn Hồng Sơn (2012), luận án xác định 07 tiêu chí:
- Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng (lành mạnh ở mức 1 – 1,5 lần tốc độ tăng trưởng kinh tế).
- Tốc độ tăng trưởng vốn chủ sở hữu (xem xét mối quan hệ giữa vốn và rủi ro tín dụng theo Berger và cộng sự, 1998; Shrieves và Dahl, 1992).
- Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ (tính toán theo thông lệ quốc tế).
- Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (đánh giá mức độ an toàn vốn và tỷ lệ đòn bẩy).
- Hiệu quả hoạt động (thông qua biên lãi ròng - NIM và tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập từ lãi).
- Khả năng sinh lời (ROA và ROE).
- Tính thanh khoản của toàn hệ thống và từng nhóm ngân hàng cụ thể.
2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin để phân tích các quy luật vận động kinh tế - xã hội và mối liên hệ giữa khu vực ngân hàng với nền kinh tế thực.
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Khai thác số liệu, văn bản chính sách và tài liệu nghiên cứu từ Thư viện Quốc gia Việt Nam, Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Cục Thống kê, Cục Công nghệ Thông tin, Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ), Ủy ban Basel và các cơ sở dữ liệu học thuật quốc tế (ScienceDirect, ProQuest, EBSCOhost, Bankscope).
- Phương pháp thống kê mô tả: Tập hợp, mô tả và hệ thống hóa chuỗi số liệu tài chính để phản ánh diễn biến thực trạng hệ thống ngân hàng Nhật Bản (1990 – 2005) và Việt Nam (2011 – 2019).
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Đánh giá nguyên nhân, cơ chế vận hành của các chính sách tái cơ cấu, phân tích các điểm thành công và hạn chế trong mô hình xử lý nợ của Nhật Bản.
- Phương pháp logic và lịch sử: Tái hiện trình tự diễn biến của các đợt khủng hoảng và các gói chính sách cải cách tại Nhật Bản và Việt Nam theo trục thời gian thực tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về đề tài luận án
Chương này tổng hợp các luồng nghiên cứu về lý luận khủng hoảng ngân hàng, kinh nghiệm xử lý nợ xấu qua các công ty quản lý tài sản quốc tế, thực tiễn cải cách hệ thống tài chính Nhật Bản từ sau khi bong bóng đầu cơ vỡ vụn và các nghiên cứu về tái cơ cấu hệ thống NHTM tại Việt Nam. Tác giả chỉ ra rằng mặc dù các tài liệu quốc tế đã nghiên cứu đa dạng về từng giải pháp kỹ thuật, việc tổng kết tiến trình cải cách Nhật Bản giai đoạn 1990 – 2005 như một chỉnh thể thống nhất nhằm rút ra bài học cho việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại tại một nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam vẫn là khoảng trống cần được làm rõ.
Chương 2: Những vấn đề lý luận cơ bản về cải cách hệ thống ngân hàng
Chương 2 xây dựng hệ thống khái niệm, xác định động lực cải cách bắt nguồn từ sự thay đổi của nền kinh tế thực và nhu cầu ổn định vĩ mô. Tác giả phân tích cấu trúc chủ thể, đối tượng, nguồn lực và hệ thống 07 tiêu chí đánh giá kết quả tái cơ cấu. Quy trình cải cách được xác định qua các bước: rà soát khung pháp lý, phân loại tổ chức tín dụng theo tiêu chuẩn quốc tế, xử lý sáp nhập - giải thể tổ chức yếu kém, cơ cấu lại vốn chủ sở hữu, thành lập cơ quan đặc trách xử lý nợ xấu, nâng cao chuẩn mực quản trị và cải cách hoạt động giám sát.
Để minh họa cho các biện pháp xử lý sáp nhập, đóng cửa và mua lại tổ chức tín dụng yếu kém trong giai đoạn khủng hoảng, luận án tổng hợp số liệu thực tế từ các nước Đông Á trong cuộc khủng hoảng tài chính 1997 – 1998:
Bảng 1: Quá trình mua lại, hợp nhất, sáp nhập tại một số nước Châu Á nhằm ứng phó khủng hoảng 1997 – 1998
| Quốc gia |
Đóng cửa |
Nhà nước mua lại |
Sáp nhập |
| Indonesia |
64 ngân hàng (18%) |
12 NHTM (20%) |
4 trong số 7 ngân hàng nhà nước sáp nhập thành 1 NHTM (54%) |
| Hàn Quốc |
5 NHTM, 17 ngân hàng bán buôn và hơn 100 tổ chức tài chính phi ngân hàng (15%) |
4 NHTM (25%) |
9 NHTM và 2 ngân hàng thương mại để thành lập 4 NHTM mới (15%) |
| Malaysia |
Không có |
1 NHTM, 1 ngân hàng bán buôn và 3 công ty tài chính đặt dưới sự kiểm soát của NHTW (12%) |
15 vụ sáp nhập giữa các công ty tài chính và NHTM (6%) |
| Thái Lan |
57 công ty tài chính, 1 NHTM (2%) |
7 NHTM, 12 công ty tài chính (2,2%) |
5 NHTM và 13 công ty tài chính sáp nhập thành 3 ngân hàng (20%) |
(Ghi chú: Số liệu trong ngoặc đơn biểu thị tỷ lệ % so với tổng tài sản khu vực tài chính. Nguồn: World Bank, 1999/2000).
Bảng 2: Thay đổi số lượng ngân hàng trước và sau khủng hoảng tài chính 1997 – 1998
| Quốc gia |
Loại hình định chế |
Trước khủng hoảng |
Sau khủng hoảng |
Mốc thời gian |
| Hàn Quốc |
Công ty tài chính |
33 |
22 |
Tháng 6/2001 |
|
NHTM |
30 |
4 |
Tháng 6/2001 |
| Indonesia |
Ngân hàng quốc doanh |
07 |
5 |
Tháng 12/2001 |
|
Ngân hàng tư nhân |
160 |
80 |
Tháng 12/2001 |
| Malaysia |
NHTM |
37 |
25 |
Tháng 12/2001 |
|
Công ty tài chính |
40 |
12 |
Tháng 12/2001 |
| Thái Lan |
NHTM |
15 |
13 |
Tháng 7/2002 |
|
Công ty tài chính |
91 |
19 |
Tháng 7/2002 |
(Nguồn: Ngân hàng Thế giới, 1999).
Chương 3: Thực trạng cải cách hệ thống ngân hàng Nhật Bản giai đoạn 1990 – 2005
Chương 3 đi sâu phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô Nhật Bản sau khi bong bóng bất động sản và chứng khoán sụp đổ đầu thập niên 1990. Luận án phân tích 4 giai đoạn khủng hoảng:
- Giai đoạn I (1992 – 1993) và Giai đoạn II (1995): Tăng trưởng GDP sụt giảm mạnh, các định chế tài chính nhà ở (Jusen) vỡ nợ, sự chậm trễ trong can thiệp chính sách do đánh giá thấp quy mô nợ xấu.
- Giai đoạn III (1997 – 1999): Khủng hoảng mang tính hệ thống bùng phát với sự sụp đổ của các định chế tài chính lớn (như Ngân hàng Hokkaido Takushoku, Công ty Chứng khoán Yamaichi). Chính phủ bắt đầu chuyển dịch sang can thiệp quy mô lớn bằng ngân sách công, thành lập Cơ quan Giám sát Tài chính (FSA) và Tổng công ty Thu hồi và Xử lý Nợ (RCC).
- Giai đoạn IV (2001 – 2002) đến năm 2005: Tăng trưởng GDP ghi nhận mức âm; triển khai Chương trình Phục hồi Tài chính (Kế hoạch Takenaka dưới thời Thủ tướng Koizumi) nhằm buộc các ngân hàng lớn phải đánh giá lại tài sản theo giá trị thị trường, trích lập dự phòng nghiêm ngặt và giảm một nửa tỷ lệ nợ xấu vào năm 2005.
Chương này đánh giá các kết quả đạt được trong việc làm sạch bảng cân đối kế toán, tái cấp vốn công, loại bỏ các ngân hàng mất khả năng thanh toán, đồng thời chỉ ra các hạn chế kéo dài do tâm lý trì hoãn và liên kết sở hữu chéo giữa khu vực ngân hàng và doanh nghiệp.
Chương 4: Bài học kinh nghiệm từ cải cách hệ thống ngân hàng Nhật Bản và một số gợi ý chính sách cho Việt Nam trong cải cách hệ thống ngân hàng
Từ thực tiễn Nhật Bản, chương 4 đúc kết 4 nhóm bài học kinh nghiệm:
- Điều tiết kinh tế qua công cụ chính sách tiền tệ: Nhận diện sớm nguy cơ bong bóng tài sản và duy trì tính linh hoạt, độc lập của chính sách tiền tệ.
- Ứng phó khi khủng hoảng xảy ra: Hành động quyết liệt, nhanh chóng, tránh trì hoãn công bố thông tin nợ xấu; thành lập cơ quan giám sát và tái cấu trúc độc lập.
- Xử lý nợ xấu: Kết hợp giữa bơm vốn công có điều kiện, sử dụng công ty quản lý tài sản độc lập và phát triển thị trường mua bán nợ thứ cấp dựa trên nguyên tắc thị trường.
- Gắn cải cách ngân hàng với tái cấu trúc doanh nghiệp: Cắt đứt quan hệ tín dụng ưu đãi thiếu minh bạch, xử lý dứt điểm các khoản nợ xấu của khu vực doanh nghiệp (đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước).
Đối chiếu với thực trạng hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2012 – 2020, luận án nêu bật các thành tựu ổn định thanh khoản, sáp nhập các NHTM yếu kém và hoạt động của VAMC; đồng thời chỉ ra các tồn tại về sở hữu chéo, nợ xấu tiềm ẩn và hạn chế về nguồn lực tài chính xử lý nợ. Từ đó, tác giả đưa ra các nhóm giải pháp cải cách hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2020 – 2030 gồm: nâng cao năng lực điều tiết chính sách, hoàn thiện khung pháp lý ứng phó khủng hoảng, phát triển thị trường mua bán nợ thực chất và tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước đồng bộ với ngân hàng.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự nêu 03 đóng góp khoa học chính:
- Về mặt lý luận: Góp phần hệ thống hóa những lý thuyết và quan điểm cơ bản về cải cách hệ thống ngân hàng, phân tích cơ chế tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan đến định hướng chính sách và các bước thực thi tái cấu trúc tổ chức tín dụng.
- Về mặt nhận thức thực tiễn: Phân tích làm rõ các vấn đề thực tiễn của cải cách ngân hàng dưới tác động của khủng hoảng tài chính và toàn cầu hóa; đối chiếu các đặc điểm tương đồng và khác biệt trong cấu trúc tài chính dựa vào ngân hàng giữa Nhật Bản và Việt Nam.
- Về mặt chính sách và ứng dụng: Đánh giá có hệ thống toàn bộ quá trình cải cách hệ thống ngân hàng Nhật Bản giai đoạn 1990 – 2005 (bao gồm cả thành công và hạn chế kéo dài), từ đó xây dựng hệ thống bài học kinh nghiệm và đề xuất các nhóm khuyến nghị giải pháp nhằm thúc đẩy tiến trình cải cách hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2020 – 2030.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
Luận án chủ yếu sử dụng nguồn số liệu thứ cấp từ các tổ chức tài chính quốc tế và các cơ quan quản lý do đặc thù đối tượng nghiên cứu chính là hệ thống ngân hàng Nhật Bản trong giai đoạn lịch sử 1990 – 2005. Phạm vi nghiên cứu thực tiễn tại Việt Nam tập trung chủ yếu vào khối NHTM trong giai đoạn 2011 – 2019, chưa bao quát chi tiết toàn bộ các định chế tài chính phi ngân hàng và hệ thống ngân hàng chính sách.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
Mở rộng nghiên cứu thực nghiệm định lượng sâu hơn đối với các chỉ số lành mạnh tài chính (FSIs) tại các NHTM Việt Nam sau năm 2020; khảo sát thực tế dữ liệu sơ cấp về cơ chế xử lý tài sản bảo đảm và nghiên cứu chuyên sâu về mô hình tái cấu trúc các ngân hàng chính sách, ngân hàng phát triển trong bối cảnh kinh tế số.
Giá trị tham khảo
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách:
Luận án cung cấp luận cứ tham khảo cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính và các cơ quan giám sát trong việc hoàn thiện thể chế tái cơ cấu ngân hàng, xây dựng cơ chế xử lý nợ xấu thực chất, kiểm soát sở hữu chéo và nâng cao tính độc lập của cơ quan giám sát tài chính.
- Đối với các ngân hàng thương mại:
Tài liệu hữu ích cho việc xây dựng chiến lược quản trị rủi ro tín dụng, trích lập dự phòng theo chuẩn mực quốc tế, tái cấu trúc bộ máy quản trị điều hành và định giá tài sản nợ xấu.
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành:
Cung cấp bức tranh toàn cảnh có hệ thống về lịch sử tài chính Nhật Bản thời kỳ "Thập kỷ mất mát" (1990 – 2005) cùng khung lý thuyết 07 tiêu chí đánh giá hiệu quả cải cách ngân hàng.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo luận án, vì sao cơ quan chủ trì cải cách hệ thống ngân hàng theo thông lệ quốc tế thường không nên do NHTW độc quyền đảm nhiệm?
Theo khảo sát của Hawkins (1999) và khuyến nghị của IMF (2004) được luận án trích dẫn, nếu NHTW độc quyền chủ trì, quá trình cải cách thường bị chậm trễ và kém hiệu quả do: (i) Kế hoạch cải cách thiếu tính minh bạch và phản biện độc lập; (ii) Thiếu sự phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan; (iii) Chi phí cải cách không được xác định chính xác theo cơ chế thị trường; và (iv) Tiềm ẩn nguy cơ xung đột lợi ích hoặc chịu chi phối từ lợi ích nhóm.
2. Tiến trình khủng hoảng và cải cách ngân hàng Nhật Bản 1990 – 2005 được luận án phân chia thành các mốc thời gian nào?
Tiến trình này trải qua 4 giai đoạn khủng hoảng chính: Giai đoạn I (1992 – 1993), Giai đoạn II (1995), Giai đoạn III (1997 – 1999) và Giai đoạn IV (2001 – 2002), kéo dài đến năm 2005 khi Nhật Bản hoàn thành mục tiêu giảm một nửa tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng lớn.
3. Khung phân tích của luận án sử dụng bộ 07 tiêu chí nào để đánh giá kết quả tái cơ cấu hệ thống ngân hàng?
Hệ thống 07 tiêu chí gồm: (1) Tăng trưởng dư nợ tín dụng; (2) Tăng trưởng vốn chủ sở hữu; (3) Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ; (4) Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản; (5) Hiệu quả hoạt động (NIM và chi phí hoạt động/thu nhập lãi); (6) Khả năng sinh lời (ROA, ROE); (7) Tính thanh khoản của hệ thống.
4. Khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 – 1998 đã làm thay đổi số lượng các tổ chức tài chính tại các nước trong khu vực như thế nào theo số liệu của luận án?
Số lượng tổ chức tài chính sụt giảm mạnh mẽ tại các quốc gia: Thái Lan giảm 72 tổ chức (từ 15 NHTM và 91 công ty tài chính xuống còn 13 NHTM và 19 công ty tài chính vào tháng 7/2002); Malaysia giảm 40 tổ chức (NHTM giảm từ 37 xuống 25, công ty tài chính giảm từ 40 xuống 12 vào tháng 12/2001); Hàn Quốc giảm 37 tổ chức (NHTM giảm từ 30 xuống 4, công ty tài chính giảm từ 33 xuống 22 vào tháng 6/2001); Indonesia giảm từ 160 ngân hàng tư nhân xuống còn 80 ngân hàng vào tháng 12/2001.
5. Số liệu nợ xấu của ngành ngân hàng Nhật Bản được Bộ Tài chính Nhật Bản (MOF) công bố và điều chỉnh lại vào năm 1998 là bao nhiêu?
Theo nghiên cứu của Maximilian J. B. Hall (2000), vào tháng 1 năm 1998, MOF đưa ra con số nợ xấu ước tính khoảng 77 nghìn tỷ yên. Đến tháng 4 năm 1998, sau khi Cơ quan Giám sát Tài chính (FSA) yêu cầu các ngân hàng báo cáo minh bạch, con số này được điều chỉnh tăng lên mức 87,5 nghìn tỷ yên.
Kết luận
Luận án tiến sĩ kinh tế "Cải cách hệ thống ngân hàng Nhật Bản giai đoạn 1990 – 2005 và một số hàm ý cho Việt Nam" đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và phân tích toàn diện 4 giai đoạn khủng hoảng tài chính tại Nhật Bản. Bằng phương pháp phân tích lịch sử, logic kết hợp thống kê mô tả số liệu thứ cấp, công trình đã làm rõ các biện pháp xử lý nợ xấu, cơ cấu lại vốn và cải cách cơ quan giám sát của Nhật Bản. Các bài học kinh nghiệm được rút ra tạo cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực điều hành chính sách tiền tệ, phát triển thị trường xử lý nợ và hoàn thiện thể chế cho hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2020 – 2030.