MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nợ xấu, nhƣ lịch sử kinh tế thị trƣờng cho thấy, đã đặt nhiều nền kinh tế, kể cả những nền kinh tế phát triển cao, vào tình trạng đặc biệt nguy hiểm. Nền kinh tế Nhật Bản 20 năm trƣớc, vào thập niên của thế kỷ trƣớc, đã lâm vào tình trạng này. Vì nhiều lý do, mà tựu trung lại, là vì không giải tỏa đƣợc "cục máu đông" - nợ xấu kịp thời, mà nền kinh tế Nhật Bản, đã đánh mất 20 năm tăng trƣởng cho tới tận hôm nay.
Gần đây hơn, nền kinh tế Mỹ, với một cấu trúc phức tạp hơn, song thực chất vẫn là nợ xấu vì "cho vay dƣới chuẩn" quá trớn, rồi một số nền kinh tế khu vực Châu Âu lâm vào nợ công - một thứ nợ xấu đặc biệt mà phía sau khoản nợ đó vẫn là bóng dáng của nhiều NH - đã và hiện tại vẫn chƣa thoát khỏi nguy cơ sụp đổ. Đối với nền kinh tế nƣớc ta, mặc dù vấn đề nợ xấu mới nổi lên chƣa lâu, song hậu quả mà nó gây ra đã đủ nghiêm trọng, cụ thể DN không thể vay, NH không thể cho vay, toàn bộ trục sản xuất và lƣu thông của cải xã hội bị đình trệ. Không khó để hình dung điều gì đang xảy ra cho nền kinh tế đang lâm vào trình trạng đó. Tuy nhiên, những câu hỏi lớn - nợ xấu từ đâu ra? Hệ lụy của nợ xấu là gì? Bằng cách nào để giải tỏa "cục máu đông"? Và quan trọng hơn - làm gì để triệt tiêu không chỉ "cục máu đông" mà là cơ chế sinh ra nó? Trƣớc tình hình đó, tôi nhận thấy vấn đề cấp bách hiện nay là tìm kiếm câu trả lời - làm gì để triệt tiêu không chỉ cục máu đông mà là cơ chế sinh ra nó để nhanh chóng khôi phục sự lƣu thông bình thƣờng của hệ thống huyết mạch trong nền kinh tế.
Và đây cũng là lý do tôi chọn đề tài: “GIẢI PHÁP HẠN CHẾ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN Á CHÂU TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY” viii 2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan Những công trình đã nghiên cứu có liên quan đến đề tài Hạn chế nợ xấu mà tác giả nghiên cứu gồm: Luận án thạc sĩ kinh tế của tác giả Hồ Việt Anh "Xử lý nợ xấu tại Công ty cho thuê tài chính II - Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam" bảo vệ tại Đại học Ngân hàng TPHCM, tháng 10 năm 2012. Nội dung đề tài này chỉ mới đƣa ra các giải pháp xử lý nợ xấu tại Công ty cho thuê tài chính. Luận án thạc sĩ kinh tế của tác giả Trần Kỳ Viễn "Quản lý nợ xấu tại Ngân hàng Phát triển Nhà Đồng Bằng Sông Cửu Long" bảo vệ tại Đại học Ngân hàng TPHCM, tháng 05 năm 2013.
Nội dung của đề tài đề cập đến Quản lý nợ xấu, trong đó đƣa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nợ xấu tại NH, tuy nhiên chƣa đề cập đến các giải pháp xử lý nợ xấu. Luận án thạc sĩ kinh tế của tác giả Phạm Hoàng Anh Tuấn "Hạn chế và xử lý nợ xấu trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Công Thƣơng Việt Nam Chi nhánh tỉnh Tiền Giang" bảo vệ tại Đại học Ngân hàng TPHCM, tháng 11 năm 2008. Nội dung của luận văn đề cập đến thực trạng nợ xấu, nguyên nhân phát sinh nợ xấu trong hoạt động cấp tín dụng, những hạn chế còn tồn tại, từ đó đƣa ra các giải pháp để xử lý và hạn chế nợ xấu tại Ngân hàng Công Thƣơng Việt Nam Chi nhánh tỉnh Tiền Giang. Đây là một nghiên cứu rất gần với nội dung của đề tài luận án, tuy nhiên, nghiên cứu này đƣợc thực hiện vào năm 2008, khi đó Việt Nam chỉ mới gia nhập WTO cũng nhƣ khủng hoảng kinh tế thế giới mới bùng phát.
Vận dụng những nghiên cứu này luận văn cũng đề cập đến các vấn đề đã đƣợc đề cập tại luận án trên nhƣng tại NH Á Châu trong giai đoạn hiện nay, sau 5 năm Việt Nam gia nhập WTO cũng nhƣ tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới vào nền kinh tế Việt Nam nói chung và hệ thống NH Việt Nam nói riêng sau 5 năm khủng hoảng kinh tế. Ngoài ra còn nhiều luận văn, nghiên cứu và những bài báo trên tập san chuyên ngành có nội dung liên quan đến đề tài, tuy nhiên có thể khẳng định đề tài Giải pháp hạn chế nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Á Châu trong giai đoạn hiện nay là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu có tính độc lập riêng, ix không sao chép bất kỳ tài liệu nào và chƣa đƣợc công bố toàn bộ nội dung này bất kỳ ở đâu. Mục tiêu nghiên cứu Phân tích một cách tổng quát và có hệ thống thực trạng nợ xấu tại NHTMCP Á Châu, đánh giá những kết quả đạt đƣợc, những hạn chế còn tồn tại đồng thời tìm ra những nguyên nhân và đƣa ra một số giải pháp nhằm hạn chế nợ xấu tại NH. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đề tài chọn thực trạng nợ xấu trong hoạt động cấp tín dụng tại NHTMCP Á Châu trong những năm gần đây làm đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
Phƣơng pháp nghiên cứu: Thu thập số liệu về tình hình nợ xấu trong những năm gần đây tại NHTMCP Á Châu, sau đó sử dụng phƣơng pháp so sánh để đƣa ra những nhận xét, đánh giá. Từ thực trạng nợ xấu tại NH, sử dụng phƣơng pháp đánh giá và phân tích tìm ra những hạn chế còn tồn tại trong việc hạn chế nợ xấu, nguyên nhân gây ra những hạn chế đó và đƣa ra những giải pháp nhằm hạn chế nợ xấu trong hoạt động cấp tín dụng tại NH Á Châu. Kết cấu của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những lý luận cơ bản về nợ xấu trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Á Châu.
Chƣơng 3: Giải pháp hạn chế nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Á Châu trong giai đoạn hiện nay. 1 CHƢƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1.1 Tín dụng ngân hàng NHTM hình thành và phát triển trải qua một quá trình lâu dài gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển hệ thống NHTM đã tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngƣợc lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trƣờng thì NHTM cũng ngày càng đƣợc hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu đƣợc. Theo điều 4 khoản 2 và 12 Luật các TCTD năm 2010: "NHTM là một TCTD thực hiện toàn bộ hoạt động NH và các hoạt động có liên quan.
Hoạt động NH là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ NH với nội dung chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán". [12] Trong các hoạt động của NHTM, tín dụng là hoạt động quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản và cũng đem lại thu nhập lớn nhất cho các NH. Vậy tín dụng NH đƣợc định nghĩa nhƣ thế nào? Tín dụng NH là quan hệ tín dụng giữa một bên là NH, các TCTD với các pháp nhân hoặc thể nhân trong nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trƣờng, NH đóng vai trò là một tổ chức tài chính trung gian, quan hệ tín dụng NH đƣợc thể hiện qua hai khâu: huy động vốn và cho vay.
Với khâu huy động vốn: NH là một chủ thể đi vay, huy động khai thác các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi chƣa sử dụng để hình thành nên nguồn vốn cho vay. Hoạt động này đƣợc thực hiện dƣới các hình thức NH huy động tiền gửi từ các cá nhân, DN, vay mƣợn qua các hợp đồng hoặc dƣới hình thức phát hành trái phiếu, kỳ phiếu NH trên thị trƣờng. Với khâu cho vay: Trên cơ sở nguồn vốn huy động đƣợc, NH sẽ thực hiện phân phối cấp tín dụng lại cho các chủ thể có nhu cầu về vốn trong nền kinh tế. Đối 2 tƣợng cho vay chủ yếu là các DN, các tổ chức kinh tế, cá nhân với mục đích sử dụng vốn tín dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng.
Với vai trò này, NH đã thực hiện chức năng phân phối lại vốn tiền tệ để đáp ứng nhu cầu tái sản xuất xã hội. Cơ sở khách quan để hình thành chức năng phân phối lại vốn tiền tệ của tín dụng NH chính là do đặc điểm tuần hoàn vốn trong quá trình tái sản xuất xã hội đã thƣờng xuyên xuất hiện hiện tƣợng thừa vốn tạm thời ở các tổ chức cá nhân này, trong khi đó ở các tổ chức cá nhân khác lại thiếu vốn cần đƣợc bổ sung. Hiện tƣợng thừa vốn phát sinh do có sự chênh lệch về thời gian, số lƣợng giữa các khoản thu nhập và chi tiêu ở tất cả các tổ chức, cá nhân trong khi quá trình tái sản xuất đòi hỏi phải đƣợc tiến hành liên tục. Tín dụng thƣơng mại cũng đã giải quyết quan hệ trực tiếp giữa các DN cần tiêu thụ hàng hóa với các DN có nhu cầu sử dụng hàng hóa mà chƣa có tiền.
Nhƣng hạn chế của tín dụng thƣơng mại là không đáp ứng đƣợc nhu cầu vay vốn với khối lƣợng, thời hạn khác nhau. Chỉ có NH chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ mới có khả năng giải quyết mâu thuẫn khi NH vừa giữ vai trò là ngƣời đi huy động vừa giữ vai trò là ngƣời cho vay.2 Rủi ro tín dụng ngân hàng Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM, phản ánh hoạt động đặc trƣng của NH, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, mang lại thu nhập lớn nhất song cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất cho NH. Nhƣ vậy RRTD là gì? Theo Timmothy W.Kech: “RRTD là sự thay đổi của thu nhập thuần và giá trị của vốn xuất phát từ việc vốn vay không được thanh toán hoặc thanh toán trễ hạn”.Fitch: "RRTD là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ". Cùng với rủi ro lãi suất, RRTD là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cấp tín dụng của NH.