Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Pháp luật về xử lý tài chính khi tái cấu trúc các ngân hàng thương mại ở Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hường thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (Bộ Giáo dục và Đào tạo – Bộ Tư pháp), thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế, mã số 938 01 07, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Minh Hằng và TS. Đồng Ngọc Ba, bảo vệ năm 2022.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong nền kinh tế, hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) giữ vai trò huyết mạch và có tính chất đặc biệt nhạy cảm trước các biến động khủng hoảng kinh tế – tài chính (như khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997, khủng hoảng tài chính toàn cầu tại Mỹ năm 2008, khủng hoảng nợ công châu Âu và sự bùng phát của đại dịch Covid-19). Chủ trương tái cơ cấu thị trường tài chính với trọng tâm là hệ thống NHTM gắn liền với xử lý nợ xấu được khẳng định xuyên suốt trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam (Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII) và các quyết định của Thủ tướng Chính phủ: Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/03/2012 phê duyệt Đề án 254 ("Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015"), Quyết định số 734/QĐ-NHNN ngày 18/04/2013 và Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 19/07/2017 phê duyệt Đề án "Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016 – 2020", hướng tới mục tiêu áp dụng chuẩn mực Basel II.
Hoạt động xử lý tài chính (XLTC) bao gồm xử lý vốn, xử lý nợ xấu và xử lý tài sản được xác định là trọng tâm quyết định sự thành bại của quá trình tái cấu trúc (TCT) NHTM. Mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh, thực tiễn thi hành cho thấy còn tồn tại nhiều bất cập: tiêu chí định giá cổ phần chưa rõ ràng, chưa có cơ chế giải quyết khi các bên không đạt được thỏa thuận định giá cổ phần, vướng mắc về áp dụng tỷ lệ lãi suất tiền gửi cũ trước khi TCT, bảo đảm tỷ lệ an toàn vốn sau TCT và bảo vệ quyền lợi cổ đông thiểu số. Các công trình khoa học trước đây chủ yếu tiếp cận hoạt động XLTC trong điều kiện vận hành bình thường hoặc thuần túy dưới góc độ kinh tế, chưa có công trình luật học nào nghiên cứu toàn diện, độc lập và có hệ thống về pháp luật xử lý tài chính gắn riêng với bối cảnh TCT NHTM. Do đó, việc nghiên cứu đề tài là một đòi hỏi cấp thiết.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án được phân bổ theo ba trọng tâm:
- Bổ sung, hoàn thiện cơ sở lý luận của pháp luật về XLTC khi TCT các NHTM (nội dung Chương 1).
- Đánh giá ưu điểm, nhược điểm của thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành quy định pháp luật về XLTC khi TCT các NHTM ở Việt Nam (nội dung Chương 2).
- Đề xuất định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về XLTC khi TCT các NHTM cùng các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi (nội dung Chương 3).
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích và làm rõ bản chất các khái niệm: TCT NHTM, XLTC khi TCT NHTM, pháp luật về XLTC khi TCT NHTM.
- Luận giải các vấn đề lý luận về XLTC và pháp luật về XLTC khi TCT NHTM.
- Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành và thực tiễn thi hành về XLTC khi TCT NHTM.
- Khảo cứu kinh nghiệm của một số quốc gia (Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc, Hoa Kỳ) và rút ra bài học cho Việt Nam.
- Xác định định hướng và kiến nghị giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực thi.
Câu hỏi nghiên cứu
Luận án xác định và đánh số 05 câu hỏi nghiên cứu:
- TCT NHTM là gì? XLTC khi TCT NHTM là gì? XLTC khi TCT NHTM có phải là toàn bộ quá trình TCT NHTM hay chỉ là một hoạt động của quá trình đó?
- Nhà nước can thiệp như thế nào để đảm bảo quá trình XLTC khi TCT NHTM diễn ra thành công, đảm bảo quyền lợi của cổ đông, khách hàng và đảm bảo an toàn cho hoạt động của các NHTM đồng thời cũng là đảm bảo an toàn cho nền tài chính quốc gia?
- Pháp luật về XLTC khi TCT NHTM là gì? Cách tiếp cận nội dung của pháp luật về XLTC khi TCT NHTM như thế nào là hợp lý nhất? Pháp luật về XLTC khi TCT NHTM được xây dựng, hoàn thiện và thực thi trên cơ sở những nguyên tắc nào?
- Thực trạng pháp luật về XLTC khi TCT NHTM ở Việt Nam như thế nào? Các quy định đã hoàn thiện, đủ mạnh để đảm bảo cho quá trình XLTC khi TCT NHTM được diễn ra thuận lợi, đảm bảo quyền lợi của cổ đông, khách hàng và sự an toàn của nền tài chính quốc gia hay chưa?
- Việc hoàn thiện pháp luật về XLTC khi TCT NHTM và nâng cao hiệu quả thực thi trong thực tiễn cần phải tuân theo những định hướng cụ thể như thế nào? Giải pháp nào giúp hoàn thiện pháp luật về XLTC khi TCT NHTM? Giải pháp nào giúp quá trình thực thi pháp luật về XLTC khi TCT NHTM được hiệu quả hơn?
Giả thuyết nghiên cứu
Luận án đưa ra 04 giả thuyết nghiên cứu được đánh số:
- Hoạt động XLTC là trọng tâm của quá trình TCT NHTM. Nếu XLTC không thành công thì quá trình TCT NHTM cũng thất bại. Tuy nhiên, đây là quá trình phức tạp vì nó liên quan trực tiếp đến lợi ích kinh tế của nhiều chủ thể (NHTM, các cổ đông, khách hàng...) nên Nhà nước cần có một hệ thống pháp luật đủ mạnh để điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình này.
- XLTC tập trung vào một số hoạt động cơ bản như sau: xử lý vốn, xử lý nợ xấu, xử lý tài sản. Tuy nhiên, sự phân chia các hoạt động này chỉ mang tính chất tương đối. Các bộ phận cấu thành của XLTC khi TCT các NHTM có sự tác động qua lại lẫn nhau. Sự thành công của hoạt động này tác động tích cực tới hoạt động khác và ngược lại.
- XLTC phải đặt trong mối quan hệ thống nhất với những hoạt động khác của quá trình TCT NHTM như TCT nhân sự, TCT hoạt động kinh doanh.
- XLTC phải giúp cho các NHTM hoạt động hiệu quả hơn góp phần tích cực trong phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm, học thuyết, lý thuyết về TCT NHTM, XLTC khi TCT NHTM; quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước; kinh nghiệm quốc tế; thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam (Luật Các TCTD năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Luật Doanh nghiệp năm 2014; Luật Đầu tư năm 2014 và năm 2020; Luật Cạnh tranh năm 2018; BLDS năm 2015; Luật Đất đai năm 2013; các văn bản dưới luật: Thông tư số 04/2010/TT-NHNN, Thông tư số 36/2014/TT-NHNN, Thông tư số 03/2014/TT-NHNN, Thông tư số 06/2017/TT-NHNN...); thực tiễn thi hành pháp luật tại Việt Nam.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu lý luận và thực trạng pháp luật tại Việt Nam, đồng thời mở rộng nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật của các quốc gia: Nhật Bản, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ khoảng năm 2010 đến năm 2022.
- Phạm vi các NHTM: Nghiên cứu tập trung vào các trường hợp tái cấu trúc điển hình trong thực tế, bao gồm: thương vụ hợp nhất NHTMCP Đệ Nhất, NHTMCP Việt Nam Tín Nghĩa và NHTMCP Sài Gòn thành NHTMCP Sài Gòn (SCB) năm 2011; NHTMCP Nhà Hà Nội (Habubank) sáp nhập vào NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) năm 2012; NHTMCP Đại Á sáp nhập vào NHTMCP Phát triển TP.HCM (HDBank).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân tích, tổng thuật các công trình nghiên cứu đi trước theo từng nhóm nội dung chuyên biệt:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
Các hướng nghiên cứu trước mà tác giả điểm lại
- Về khái niệm TCT NHTM và XLTC khi TCT NHTM: Lê Thị Tuấn Nghĩa và Phạm Mạnh Hùng (2013) phân tích quan điểm của Ngân hàng Thế giới (WB), Claudia Dziobek (1998) và Ceyla Pazarbasioglu về mục tiêu phục hồi khả năng thanh toán, tăng vốn, giảm nợ; Vi Văn Thực (2013) tiếp cận TCT NHTM dưới góc độ thay đổi nguồn vốn, tài sản, cơ cấu tổ chức; Lê Trung Thành (2017) phân tích định nghĩa TCT NHTM theo chuẩn mực Basel II của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS); Nguyễn Quỳnh Hoa (2014) nhấn mạnh biện pháp khắc phục khiếm khuyết của hệ thống; John Hawkins và Philip Turner (1999) phân tích tổng quát bản chất tái cấu trúc ngân hàng; Đặng Thị Việt Đức và Phan Anh Tuấn phân tích phạm trù tài chính; Đặng Phương Mai (2016) định nghĩa TCT tài chính doanh nghiệp ngành thép.
- Về mối quan hệ giữa XLTC và TCT NHTM: Wei Xu, Xiangzhen Xu, Shoufeng Zhang (2005) chứng minh mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa XLTC và TCT; Dilip Ratha (2003) phân tích đòn bẩy tài chính và hiệu quả TCT tại các nước đang phát triển; Berger (2008) kiểm định lý thuyết chi phí đại diện trong mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và TCT; Berger (1995), Zeitun (2012), Trujillo-Ponce (2010) tìm thấy mối quan hệ đồng biến giữa nguồn vốn và khả năng sinh lợi, giảm chi phí kiệt quệ tài chính.
- Về pháp luật xử lý vốn khi TCT NHTM: Berger và DeYoung (2008) phân tích tỷ lệ vốn của các ngân hàng lớn; John Armour (2006) lập luận về quy chế vốn pháp định; Hồ Tuấn Vi (2016) phân tích nguy cơ cổ đông thiểu số bị bỏ qua trong sáp nhập; Nguyễn Minh Hằng và Lương Linh Chi (2019) nghiên cứu quyền lợi cổ đông lớn qua vụ Habubank sáp nhập SHB; Nguyễn Thị Gấm (2019) nghiên cứu vấn đề nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần NHTM trong nước; Phạm Minh Sơn (2016) luận giải giới hạn quyền và nghĩa vụ của NHTM đối với người gửi tiền và chủ nợ khi mua lại, sáp nhập.
- Về pháp luật xử lý nợ xấu khi TCT NHTM: Đặng Hà Giang (2020) nghiên cứu tác động của Covid-19 làm gia tăng nợ xấu; Phan Huy Đức (2013) phân tích mô hình AMC xử lý nợ xấu ở Đông Á; Hà Phương (2020) chỉ ra sự thiếu hiệu quả của các công ty AMC trực thuộc NHTM; Anh Khoa (2019) phân tích cơ chế "tạm nhốt" nợ xấu tại VAMC; Anh Minh (2020) nghiên cứu giải pháp tái cơ cấu nợ xấu theo chiều sâu; Đào Duy Huân (2013) phân tích tâm lý e ngại lộ thông tin bảo mật khi bán nợ; Tôn Thanh Tâm (2017) phân tích các tiền lệ hoán đổi nợ xấu thành vốn góp thực tế (SHB tại BianfishCo, VietinBank tại các cảng của Vinalines với 5.000 tỷ đồng nợ chuyển thành vốn góp, ACB hoán đổi nợ lấy 12,6 triệu cổ phần tại Công ty Vận tải); Nguyễn Vi (2016) và Đỗ Linh (2018) cảnh báo rủi ro pháp lý của việc chuyển nợ thành vốn góp.
- Về pháp luật xử lý tài sản khi TCT NHTM: Trần Thị Bảo Anh (2018) nghiên cứu định giá tài sản trí tuệ và thương hiệu trong M&A ngân hàng; Nguyễn Như Quỳnh (2019) khảo sát thực tiễn xử lý tài sản bảo đảm tại NHTMCP Bản Việt; Phạm Minh Sơn (2016) phân tích chuyển giao toàn bộ tài sản; BIDV (2016) phản ánh khó khăn khi thực hiện quyền xử lý tài sản bảo đảm; Lại Hiệp Phong (2020) phân tích các vướng mắc về điều kiện và thời điểm xử lý tài sản thế chấp của bên thứ ba.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan cho thấy các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề xử lý tài chính ở điều kiện ngân hàng hoạt động bình thường, hoặc nghiên cứu các biện pháp kinh tế đơn lẻ. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống học thuật: xây dựng cơ sở lý luận hoàn chỉnh về khái niệm, nội dung pháp luật về XLTC khi TCT NHTM dưới góc độ Luật Kinh tế; làm rõ sự khác biệt giữa XLTC khi TCT và XLTC thông thường; phân tích chuyên sâu thực trạng pháp luật điều chỉnh đồng thời cả ba bộ phận: vốn, nợ xấu và tài sản trong bối cảnh tái cấu trúc tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án dựa trên hệ thống nền tảng lý thuyết đa ngành:
- Lý thuyết ngành tài chính – ngân hàng: Làm rõ cấu trúc vốn, nguyên lý hoạt động, mối liên kết hệ thống và vai trò huyết mạch của NHTM đối với nền kinh tế.
- Lý thuyết kinh tế học: Áp dụng quy luật thị trường tài chính – tiền tệ, quan hệ cung – cầu, sự điều tiết vĩ mô đối với lĩnh vực kinh doanh tiền tệ.
- Lý thuyết về tự do thỏa thuận trong góp vốn thành lập doanh nghiệp: Sử dụng để giải quyết quan hệ lợi ích, quyền và nghĩa vụ giữa các nhóm cổ đông (đặc biệt là cổ đông lớn và cổ đông thiểu số) trong các thương vụ M&A, hợp nhất NHTM.
- Lý thuyết về hợp đồng: Làm cơ sở bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng, người gửi tiền, các bên thứ ba tham gia giao kết với ngân hàng trong quá trình chuyển giao quyền và nghĩa vụ khi TCT.
- Lý thuyết về an toàn hệ thống tài chính: Luận giải căn cứ để Nhà nước can thiệp bằng các biện pháp mệnh lệnh hành chính, kiểm soát đặc biệt và quy chế an toàn vốn (chuẩn Basel II) nhằm phòng ngừa nguy cơ sụp đổ mang tính hệ thống.
- Cơ sở phương pháp luận Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật: Khẳng định vai trò duy nhất của Nhà nước trong việc ban hành và đảm bảo thực thi pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình TCT.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án thuộc loại hình nghiên cứu pháp lý kết hợp đánh giá thực tiễn (định tính), không sử dụng mô hình kinh tế lượng hay kiểm định thống kê suy diễn. Các phương pháp nghiên cứu được vận dụng linh hoạt theo từng chương:
- Phần Tổng quan và Chương 1: Áp dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, quy nạp, diễn dịch để hệ thống hóa tài liệu, xây dựng và làm rõ các định nghĩa, phân loại phương thức TCT và xác định nội hàm pháp luật điều chỉnh.
- Chương 2: Áp dụng phương pháp phân tích luật viết, bình luận, lập luận logic, đối chiếu quy định pháp luật với thực tiễn thực thi; sử dụng phương pháp thống kê mô tả nhằm tổng hợp số liệu từ các báo cáo ngành ngân hàng.
- Chương 3: Áp dụng phương pháp tổng hợp, suy luận logic, so sánh pháp luật quốc tế và lập luận pháp lý để xây dựng các định hướng, kiến nghị sửa đổi luật.
| Phần / Chương của luận án |
Nhóm phương pháp nghiên cứu chủ đạo |
Mục đích áp dụng |
| Phần Tổng quan & Cơ sở lý thuyết |
Phân tích, tổng hợp, đánh giá tài liệu |
Xác định khoảng trống học thuật và khung lý thuyết |
| Chương 1 (Lý luận về XLTC và pháp luật XLTC) |
Phân tích, so sánh, khái quát, diễn giải, quy nạp |
Xây dựng các khái niệm, phân loại, xác định bản chất |
| Chương 2 (Thực trạng pháp luật tại Việt Nam) |
Phân tích luật viết, bình luận, lập luận, thống kê mô tả |
Chỉ ra hạn chế, bất cập của luật và thực tế áp dụng |
| Chương 3 (Định hướng và giải pháp hoàn thiện) |
Bình luận, suy luận logic, so sánh pháp luật |
Đề xuất giải pháp sửa đổi luật và cơ chế thực thi |
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2022.
- Tài liệu thực tế và số liệu thống kê mô tả về tình hình TCT, nợ xấu, tài sản bảo đảm, kết quả của VAMC, báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Thế giới, IMF, CIC và số liệu công bố của các NHTM (được tổng hợp trong các Bảng 2.1, 2.2, 2.3, 2.4, 2.5, 2.6, 3.1 và Biểu đồ 2.1, 2.2, 2.3, 2.4, 2.5, 3.1).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về xử lý tài chính và pháp luật về xử lý tài chính khi tái cấu trúc các ngân hàng thương mại
Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận của luận án, tập trung vào hai nhánh nội dung: lý luận về xử lý tài chính và lý luận về pháp luật xử lý tài chính khi TCT các NHTM.
Về khái niệm tài chính, tác giả tiếp cận khái niệm tài chính của NHTM theo nghĩa hẹp, bao gồm: vốn, các khoản nợ và tài sản (gồm tài sản hữu hình, tài sản vô hình và các khoản tiền khách hàng nợ ngân hàng). Từ đó, tác giả đưa ra định nghĩa:
“XLTC khi TCT NHTM là thay đổi, sắp xếp lại các nguồn tài chính bao gồm vốn, các khoản nợ, tài sản và đặt trong mối quan hệ với sự thay đổi, sắp xếp lại một cách tổng thể các yếu tố khác của NHTM như cơ cấu quản lý, sở hữu, nguồn nhân lực... giúp NHTM hoạt động hiệu quả hơn và góp phần kích thích sự phát triển của hệ thống tài chính.”
Luận án làm rõ sự khác biệt căn bản giữa hoạt động XLTC trong điều kiện vận hành bình thường và XLTC khi TCT NHTM:
| Tiêu chí phân biệt |
Xử lý tài chính trong điều kiện bình thường |
Xử lý tài chính khi tái cấu trúc NHTM |
| Hoạt động xử lý vốn |
Tập trung tăng vốn chủ sở hữu, kết nạp thêm cổ đông, phân chia lợi nhuận, huy động tiền gửi tiết kiệm, phát hành giấy tờ có giá định kỳ. |
Tập trung định giá cổ phần, xác định tỷ lệ hoán đổi cổ phần khi M&A; kiểm soát giới hạn tập trung kinh tế; xử lý lãi suất tiền gửi cũ trước khi TCT; bảo vệ quyền lợi cổ đông thiểu số. |
| Hoạt động xử lý nợ |
Thu hồi và xử lý các khoản nợ xấu thông thường phát sinh trong chu kỳ kinh doanh tín dụng. |
Chuyển giao toàn bộ các khoản nợ (bao gồm nợ xấu và các khoản nợ đang thực hiện đúng hợp đồng); áp dụng cơ chế đặc thù như mua bán nợ xấu diện rộng, hoán đổi nợ thành vốn góp. |
| Hoạt động xử lý tài sản |
Tập trung xử lý tài sản bảo đảm của các khoản vay có vấn đề. |
Hướng tới đồng thời cả tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu và tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của NHTM (trụ sở, chi nhánh, công nghệ, thương hiệu). |
Về mục đích của XLTC, luận án phân định rõ theo từng phương thức TCT:
- Phương thức mua bán: Mục đích là giải cứu ngân hàng yếu kém bằng cách để NHTM lành mạnh mua lại toàn bộ quyền và nghĩa vụ, phục hồi hoạt động và ngăn ngừa nguy cơ phá sản lan truyền.
- Phương thức sáp nhập, hợp nhất: Tăng quy mô vốn điều lệ và quy mô mạng lưới, giảm bớt số lượng NHTM quy mô nhỏ hoạt động kém hiệu quả, nâng cao năng lực cạnh tranh.
- Phương thức kiểm soát đặc biệt (kể cả biện pháp mua lại bắt buộc với giá 0 đồng): Nhà nước can thiệp nhằm ngăn chặn đổ vỡ mang tính dây chuyền, bảo đảm an ninh hệ thống tiền tệ quốc gia.
- Phương thức tự tái cấu trúc: Do chính NHTM chủ động tiến hành nhằm tối ưu hóa danh mục tài sản, tăng vốn và mở rộng thị phần.
Chương này cũng phân tích các yếu tố tác động đến pháp luật về XLTC khi TCT NHTM (điều kiện kinh tế vĩ mô, trình độ phát triển của thị trường tài chính, cam kết quốc tế và năng lực giám sát của cơ quan quản lý), từ đó định hình các nhóm nội dung điều chỉnh của pháp luật: pháp luật về xử lý vốn, pháp luật về xử lý nợ xấu và pháp luật về xử lý tài sản.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về xử lý tài chính khi tái cấu trúc các ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Chương 2 đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và thực tế áp dụng tại Việt Nam thông qua ba trụ cột:
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ XLTC KHI TCT NHTM
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về xử lý tài chính khi tái cấu trúc các ngân hàng thương mại ở Việt Nam và nâng cao hiệu quả thực thi
Chương 3 đề xuất định hướng và hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật cùng các biện pháp nâng cao hiệu quả thực thi:
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Bổ sung và hoàn thiện hệ thống lý luận của Luật Kinh tế về XLTC trong bối cảnh tái cấu trúc NHTM – một vấn đề trước đây thường bị xem lẫn trong các nghiên cứu kinh tế học hoặc các nghiên cứu pháp luật doanh nghiệp chung.
- Xây dựng và làm sáng tỏ nội hàm khái niệm XLTC khi TCT NHTM theo nghĩa hẹp (tập trung vào vốn, nợ xấu và tài sản).
- Phân định rõ ranh giới bản chất giữa hoạt động XLTC trong điều kiện hoạt động bình thường với hoạt động XLTC khi TCT NHTM.
- Luận giải mối quan hệ tương hỗ tỷ lệ thuận và quan hệ tập hợp lớn – tập hợp con giữa quá trình TCT tổng thể với khâu trọng tâm là XLTC.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Luận án đánh giá một cách toàn diện những vướng mắc pháp lý nảy sinh qua các thương vụ TCT điển hình ở Việt Nam (SCB, SHB – Habubank, HDBank – Đại Á).
- Đưa ra các kiến nghị lập pháp cụ thể, có giá trị ứng dụng cao đối với việc sửa đổi, bổ sung Luật Các TCTD (đặc biệt là đề xuất bổ sung các điều luật chuyên về xử lý tài chính khi tái cơ cấu).
- Cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế định giá cổ phần, xử lý tiền gửi, hoán đổi nợ xấu thành cổ phần, và thực hiện quyền xử lý tài sản bảo đảm của các TCTD.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu:
- Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực trạng và số liệu từ năm 2010 đến năm 2022, thời điểm một số chính sách đặc thù (như Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu) đang trong giai đoạn chuẩn bị tổng kết để luật hóa.
- Nghiên cứu tập trung vào khía cạnh pháp lý định tính; các phân tích thực tiễn chủ yếu dựa vào số liệu thứ cấp được công bố chính thức từ Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tài chính.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Nghiên cứu các tác động pháp lý mới sau khi toàn bộ quy định về xử lý nợ xấu và tái cơ cấu ngân hàng được pháp điển hóa chính thức vào Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi.
- Mở rộng nghiên cứu cơ chế XLTC gắn với các loại hình tài sản mới phát sinh trong quá trình chuyển đổi số ngân hàng (tài sản dữ liệu số, tài sản công nghệ tài chính - Fintech).
- Đánh giá sâu hơn về việc đáp ứng toàn diện các trụ cột của Basel III tại các NHTM Việt Nam sau giai đoạn phục hồi kinh tế hậu Covid-19.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị chuyên môn cao cho các đối tượng:
- Cơ quan xây dựng chính sách và cơ quan lập pháp (Quốc hội, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước): Tham khảo các luận cứ khoa học và kiến nghị điều luật cụ thể phục vụ công tác sửa đổi, bổ sung Luật Các TCTD và hoàn thiện các thông tư hướng dẫn về an toàn vốn, sáp nhập, kiểm soát đặc biệt và xử lý nợ xấu.
- Các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng: Tham khảo phương thức xử lý tài chính an toàn về mặt pháp lý khi xây dựng đề án tái cơ cấu, sáp nhập, phát hành cổ phần tăng vốn, thực hiện hoán đổi nợ thành vốn góp và giải quyết tranh chấp xử lý tài sản bảo đảm.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế và Tài chính – Ngân hàng: Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên khảo về pháp luật ngân hàng, quản trị rủi ro pháp lý và pháp luật về tái cấu trúc tổ chức tín dụng.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa xử lý tài chính khi tái cấu trúc ngân hàng thương mại như thế nào?
Luận án tiếp cận tài chính ngân hàng theo nghĩa hẹp (gồm vốn, các khoản nợ và tài sản) và định nghĩa: XLTC khi TCT NHTM là thay đổi, sắp xếp lại các nguồn tài chính bao gồm vốn, các khoản nợ, tài sản và đặt trong mối quan hệ với sự thay đổi, sắp xếp lại một cách tổng thể các yếu tố khác của NHTM như cơ cấu quản lý, sở hữu, nguồn nhân lực... giúp NHTM hoạt động hiệu quả hơn và góp phần kích thích sự phát triển của hệ thống tài chính.
2. Sự khác biệt cơ bản giữa XLTC khi TCT và XLTC trong điều kiện hoạt động bình thường là gì?
- Về vốn: XLTC bình thường tập trung huy động tiền gửi và phát hành cổ phần tăng vốn định kỳ; trong TCT phải giải quyết việc định giá cổ phần, hoán đổi cổ phần khi M&A, kiểm soát tập trung kinh tế và bảo vệ quyền lợi cổ đông thiểu số.
- Về nợ: XLTC bình thường chỉ xử lý các khoản nợ xấu phát sinh; trong TCT có thể phải chuyển giao toàn bộ các khoản nợ (cả nợ xấu và nợ thông thường) sang pháp nhân mới.
- Về tài sản: XLTC bình thường chỉ tập trung vào tài sản bảo đảm của khoản nợ; trong TCT phải định giá và chuyển giao toàn diện cả tài sản bảo đảm lẫn tài sản thuộc sở hữu ngân hàng (trụ sở, hệ thống công nghệ, thương hiệu).
3. Mục đích của xử lý tài chính được luận án phân loại như thế nào theo từng phương thức TCT?
Luận án phân loại theo 4 phương thức:
- Mua bán NHTM: Nhằm giải cứu ngân hàng yếu kém thông qua việc để ngân hàng có tiềm lực mua lại, tránh sụp đổ pháp nhân.
- Sáp nhập, hợp nhất: Nhằm tăng quy mô vốn, mở rộng thị phần và loại bỏ các tổ chức tín dụng nhỏ lẻ, yếu kém.
- Kiểm soát đặc biệt (hoặc mua lại bắt buộc 0 đồng): Nhằm bảo vệ an toàn của toàn bộ hệ thống tài chính quốc gia và ngăn chặn khủng hoảng diện rộng.
- Tự tái cấu trúc: Nhằm tối ưu hóa cấu trúc vốn, tài sản để nâng cao hiệu quả hoạt động nội tại của chính NHTM.
4. Luận án nêu ra những bất cập pháp lý nổi cộm nào trong thực trạng xử lý vốn và nợ xấu tại Việt Nam?
- Về xử lý vốn: Pháp luật thiếu tiêu chí định giá cổ phần minh bạch khi sáp nhập/hợp nhất; chưa có quy định giải quyết bế tắc khi các bên không đạt được thỏa thuận định giá; thiếu cơ chế xác định mức lãi suất áp dụng đối với các khoản tiền gửi cũ trước khi TCT; quyền phủ quyết của cổ đông thiểu số dễ bị vô hiệu hóa.
- Về xử lý nợ xấu: Hoạt động hoán đổi nợ xấu thành vốn góp (như các vụ việc tại BianfishCo, Vinalines, ACB) diễn biến trên thực tế nhưng chưa có văn bản luật điều chỉnh cụ thể, tiềm ẩn rủi ro cho NHTM; hoạt động mua bán nợ theo giá thị trường của VAMC và các AMC trực thuộc ngân hàng còn nhiều điểm nghẽn.
5. Tác giả đề xuất định hướng lập pháp cốt lõi nào để hoàn thiện pháp luật về XLTC khi TCT NHTM?
Tác giả đề xuất cần pháp điển hóa các quy định xử lý tài chính bằng cách bổ sung một số điều luật chuyên trách vào Luật Các tổ chức tín dụng (chương quy định về tổ chức lại, can thiệp sớm và kiểm soát đặc biệt); đồng thời xây dựng quy định chuẩn hóa về định giá cổ phần, bảo vệ cổ đông thiểu số, khung pháp lý cho việc hoán đổi nợ thành vốn góp và tăng cường thẩm quyền thu giữ tài sản bảo đảm của các tổ chức tín dụng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hường là công trình nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ khoa học pháp lý về xử lý tài chính trong quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Bằng việc tiếp cận đồng bộ ba cấu phần vốn, nợ xấu và tài sản, luận án đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận, chỉ rõ các hạn chế của quy định hiện hành và thực tiễn áp dụng qua các thương vụ tái cấu trúc thực tế. Hệ thống các giải pháp và kiến nghị lập pháp do tác giả đề xuất có giá trị khoa học và thực tiễn rõ rệt, đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện thể chế tài chính – ngân hàng và nâng cao an toàn hệ thống trong bối cảnh hội nhập quốc tế.