phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng I: Lý luận chung về thanh toán vốn và thanh toán điện tử liên ngân hàng. Chƣơng II: Thực trạng thanh toán điện tử liên ngân hàng tại Ngân hàng Nhà nƣớc Tỉnh Đồng Nai. Chƣơng III: Giải pháp hoàn thiện hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng tại Ngân hàng Nhà nƣớc Tỉnh Đồng Nai. 5 CHƢƠNG I:LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH TOÁN VỐN VÀ THANH TOÁN ĐIỆN TỬ LIÊN NGÂN HÀNG 1.1 Thanh toán vốn giữa các ngân hàng 1.1 Khái niệm: Theo Ông Đinh Đức Thịnh, “Thanh toán vốn giữa các ngân hàng là nghiệp vụ thanh toán qua lại giữa các ngân hàng nhằm tiếp tục quá trình thanh toán tiền giữa các đơn vị, tổ chức kinh tế, cá nhân với nhau, mà họ không cùng mở tài khoản tại một ngân hàng và thanh toán vốn nội bộ giữa các đơn vị trong hệ thống ngân hàng”.
Theo bản thân tác giả, Thanh toán vốn giữa các ngân hàng là việc thanh toán vốn tiền tệ giữa các chinhánh ngân hàng trong cùng hệ thống hoặc giữa các ngân hàng khác hệ thống phát sinh trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thanh toán hàng hoá, dịch vụ và điều chuyển tiền của các đơn vị, tổ chức kinh tế, cá nhân và nghiệp vụ điều chuyển tiền của chính bản thân ngân hàng.2 Sự cần thiết của thanh toán vốn giữa các ngân hàng Thanh toán vốn giữa các ngân hàng ra đời dựa trên nhu cầu tất yếu trong công tác thanh toán không dùng tiền mặt của xã hội. Theo quy luật của sự phát triển kinh tế – xã hội, giao dịch thương mại không chỉ bó hẹp trong một lãnh thổ, một quốc gia mà xuyên khắp quốc gia trên cả thị trường thế giới với một khối lượng hàng hóa lớn, nhiều chủng loại đa dạng và phong phú. Lúc này, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt càng trở nên phức tạp hơn, không chỉ giới hạn trong pham vi một ngân hàng, tỉnh thành, hay một quốc gia, mà còn trên khắp thế giới. Ban đầu, khi thanh toán không dùng tiền mặt xuất hiện, các phương thức thanh toán còn khá đơn giản, chỉ cần 2 chủ thể mở tài khoản tại một ngân hàng, Ngân hàng sẽ trích chuyển vốn từ tài khoản đơn vị này sang tài khoản đơn vị khác là có thể thanh toán.
Khi đó, thanh toán vố giữa các ngân hàng chưa xuất hiện, mới chỉ là thanh toán trong một ngân hàng. Song, qui mô, phạm vi lẫn tính thường xuyên, liên tục trong thanh toán không dùng bằng tiền mặt ngày càng mở rộng, dần dần các chủ thể trong hoạt động thanh toán không những mở tài khoản trong một ngân hàng mà còn ở các ngân hàng 6 khác nhau. Đòi hỏi vốn từ ngân hàng này chuyển sang ngân hàng khác là nghiệp vụ thường xuyên xảy ra. Trước nhu cầu bức thiết của xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu nhằm càng phức tạp của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, thanh toán vốn giữa các ngân hàng ra đời.
Thanh toán vốn giữa các ngân hàng là không thể thiếu trong hoạt động ngân hàng. Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt muốn phát triển đòi hỏi xây dựng một hệ thống thanh toán vốn giữa các ngân hàng tốt hơn, an toàn hơn, ít rủi ro hơn thì không chỉ làm tăng doanh số thanh toán, làm cho dịch vụ thanh toán ngày càng trở nên hoàn thiện hơn trong mắt của người tiêu dùng mà còn góp phần hỗ trợ tích cực cho các hoạt động của các dịch vụ khác phát triển, thoả mãn tốt hơn các nhu cầu của khách hàng, giảm chi phí vận hành, tăng cường hiệu quả quản lý và tăng hiệu quả kinh doanh. Vậy thanh toán vốn giữa các ngân hàng có ý nghĩa rất quan trọng với nền kinh tế. Nó không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các đơn vị kinh tếmà còn tác động đến các chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia nhờ có thanh toánkhông dùng tiền mặt.
Do đó thanh toán vốn giữa các ngân hàng là một nhân tốkhông thể thiếu được trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế của mỗi mộtquốc gia trong quá trình thiết lập một môi trường kinh tế hữu hiệu.2 Các phƣơng thức thanh toán vốn giữa các ngân hàng 1.1 Thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng Thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng (TTBT) là phương thức thanh toán vốn giữa các ngân hàng được thực hiện bằng cách bù trừ tổng số phải thu, phải trả và trên cơ sở đó chỉ thanh toán với nhau số chênh lệch (kết quả bù trừ). TTBT phát sinh trên cơ sở các khoản tiền hàng hoá, dịch vụ của hách hàng mở TK ở các NH khác nhau hoặc thanh toán vốn của bản thân ngân hàng. TTBT được áp dụng giữa các ngân hàng khác hệ thống với nhau (TTBT khác hệ thống) hoặc có thể áp dụng giữa các đơn vị ngân hàng thuộc cùng một hệ thống ngân hàng (TTBT cùng hệ thống). Tùy thuộc vào phương pháp trao đổi chứng từ, chuyển số liệu mà có cơ chế TTBT trên cơ sở chứng từ giấy (TTBT giấy) và TTBT điện tử.2 Thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nƣớc Thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại NHNN được áp dụng trong thanh toán qua lại giữa hai ngân hàng hoặc đơn vị ngân hàng khác hệ thống đều có tài khoản tiền gửi tại NHNN (cùng hoặc khác chi nhánh, Sở giao dịch NHNN).
Các khoản thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại NHNN của các ngân hàng cũng đều phát sinh trên cơ sở các khoản thanh toán của khách hàng và của nội bộ các ngân hàng như các khoản điều chuyển vốn, các khoản vay trả giữa các ngân hàng với nhau.3 Thanh toán theo phƣơng thức uỷ nhiệm thu hộ, chi hộ Uỷ nhiệm thu hộ, chi hộ là một phương thức thanh toán giữa hai ngân hàng theo sự thoả thuận và cam kết với nhau, ngân hàng này sẽ thực hiện thu hộ hoặc chi hộ cho ngân hàng kia trên cơ sở các chứng từ thanh toán của các khách hàng có mở tài khoản tại ngân hàng kia.4 Mở tài khoản tiền gửi lẫn nhau Phương thức này được áp dụng trong thanh toán – Giữa 2 đơn vị ngân hàng trong cùng hệ thống; và – Giữa 2 ngân hàng hoặc đơn vị ngân hàng khác hệ thống.5 Thanh toán điện tử liên ngân hàng 1.3 Cơ sở lý luận về thanh toán điện tử liên ngân hàng 1.1 Sự cần thiết của thanh toán điện tử liên ngân hàng 1.1 Khái niệm: Theo thông tư 23/2010/TT-NHNN ngày 9/11/2010 của NHNN Việt Nam, „TTĐTLNH là quá trình xử lý các giao dịch thanh toán liên ngân hàng kể từ khi khởi tạo lệnh thanh toán cho tới khi hoàn tất thực hiện lệnh thanh toán, được thực hiện qua mạng máy tính” [10] Mục tiêu chính của hệ thống TTĐTLNH là: - Giúp NHNN kiểm soát tốt hơn các khoản thanh toán thông qua việc quản lý tập trung về số dư tài khoản quyết toán của các TCTD. - Giúp các TCTD tăng cường vốn khả dụng thông qua việc tập trung hóa tài khoản. 8 - Tăng tốc độ lưu chuyển tiền tệ, giảm lượng tiền trôi nổi, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn của TCTD. - Bảo đảm hệ thống quyết toán và bù trừ có độ tin cậy cao, an toàn và nhanh chóng.
- Cải tiến việc quản lý các chinh sách tiền tệ của NHNN nhờ có các thông tin kịp thời và chính xác về các luồng chu chuyển vốn và các số dư tài khoản của các TCTD.2 Vai trò và ý nghĩa Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng giữ vai trò là hệ thống thanh toán xƣơng sống của quốc gia. Hệ thống TTĐTLNH là bước tiến về việc áp dụng và cải tiến công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng, thức đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của của các quốc gia nói chung và của ngành NH nói riêng. Sự ra đời và phát triển của hệ thống này đã thể hiện được hiệu quả và tính ưu việt của mình, phần nào khắc phục những hạn chế của hệ thống thanh toán đã có (về thời gian, phương thức thanh toán…). Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng cũng đóng vai trò trọng yếu trong các giao dịch thanh toán giữa các ngân hàng.
Thanh toán điện tử liên ngân hàng mang lại hiệu quả, tiện ích cao trong hoạt động thanh toán vốn giữa các ngân hàng. Hệ thống TTĐTLNH là một hệ thống thanh toán hiện đại, đáp ứng nhu cầu thanh toán của hàng trăm ngân hàng, với công suất lớn, tốc độ nhanh và chính xác. Đảm bảo luân chuyển vốn được an toàn, kịp thời.Là một dự án công nghệ thông tin có hàm lượng công nghệ cao, hạ tầng kỹ thuật hiện đại, Hệ thống Thanh toán điện tử liên ngân hàng được thiết kế lắp đặt đáp ứng yêu cầu sẵn sàng cao (HA), kiến trúc hệ thống mở thuận lợi để giao diện với các hệ thống khác. Thanh toán điện tử liên ngân hàng giai đoạn 2 được đưa vào vận hành đúng tiến độ vào tháng 28/2/2009 đã tạo ra một hạ tầng công nghệ hiện đại, trục xương sống về thanh toán quốc gia, tiền đề quan trọng để phát triển các dịch vụ ngân hàng điện tử hiện đại, phát triển thương mại điện tử tại Việt Nam.
Việc triển khai thành công, đúng tiến độ 9 dự án Hiện đại hoá Ngân hàng và Hệ thống thanh toán giai đoạn 2 nói chung cũng như hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng giai đoạn 2 nói riêng sẽ có một ý nghĩa đặc biệt, khả năng chỉ đạo, điều hành và quản lý một dự án công nghệ có quy mô lớn, hiện đại, đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội; đây còn là công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc quản lý, thực thi và điều hành chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam trong giai đoạn mới. Nhờ đó, mang lại lợi ích cho xã hội. Thứ nhất, mang lại lợi ích cho nền kinh tế phát triển nhanh và giao thương quốc tế. Thứ hai, giúp cho các tổ chức tín dụng sử dụng hiệu quả cao nhất vốn khả dụng của mình thông qua hệ thống tài khoản tập trung.
Thứ ba, nâng cao chất lượng thông tin, chính xác, kịp thời cho quản lý, điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương; và cơ hội mở rộng các dịch vụ ngân hàng hiện đại, là chìa khoá để thay đổi tư duy kinh doanh ngân hàng truyền thống, tạo thuận lợi cao nhất cho mọi đối tượng khách hàng.2 Những quy định chung về thanh toán điện tử liên ngân hàng 1.1 Đối tƣợng tham gia thanh toán điện tử liên ngân hàng Là các ngân hàng có đủ điều kiện và tiêu chuẩn theo quy định của Thống đốc NHNN và được NHNN Việt Nam chấp thuận bằng văn bản.