Mở đầu cho những nghiên cứu thực nghiệm về thâm hụt kép, Laney (1984) đã chứng minh mối quan hệ một chiều từ thâm hụt ngân sách tới thâm hụt tài khoản vãng lai khi ông nghiên cứu mối quan hệ giữa đồng đô la Mỹ được định giá quá cao, thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai lớn ở Mỹ , các nước phát triển cũng như các nước đang phát triển khác. Sử dụng phương pháp bình phương bé nhất (OLS), kết quả cho thấy rằng cân bằng tài khóa là một yếu tố quyết định sự cân bằng bên ngoài, có ý nghĩa thống kê đáng chú ý ở các nước đang phát triển hơn là các nước công nghiệp. Sau đó, Ahmed (1986) cũng chứng tỏ rằng một sự thay đổi rõ ràng và tạm thời trong chi tiêu Chính phủ sẽ dẫn đến thâm hụt tài khoản vãng lai thông qua sự sụt giảm tổng cầu. Ngược lại,Miller and Russek (1989) thì tìm ra những kết quả trái ngược phụ thuộc vào mô hình kinh tế lượng của dữ liệu.Những tác giả này cho rằng các mô hình xác định (deterministic) và mô hình ngẫu nhiên thống kê (stochastic) đưa ra tương quan cùng chiều giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại suốt giai đoạn áp dụng tỷ giá linh hoạt.Tuy nhiên khi phân tích tính đồng liên kết, họ không tìm thấy bằng chứng ủng hộ cho mối quan hệ trong dài hạn giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại.
Tiếp đến, hàng loạtcác nghiên cứu thực nghiệm ủng hộ lý thuyết thâm hụt kép theo trường phái Keynes truyền thống đã ra đời, chẳng hạn như: nghiên cứu của Roubini (1988), Abell (1990), Normandin (1999), Vamvaukas (1999), Roubini và Setser (2005). Tuy nhiên, các bằng chứng được tìm thấy lại có sự khác biệt khá lớn, thậm chí có sự không đồng nhất về chiều hướng tác động của thâm hụt ngân sách lên thâm hụt tài khoản vãng lai. Ví dụ, theo nghiên cứu của Roubini (1988) và Normandin (1999), Erceg, Guerrieri, và Gust (2004), thâm hụt ngân sách gây ra sự sụt giảm đáng kể trong thâm hụt thương mại, cụ thể, 1 dollar thâm hụt ngân sách ở Mỹ sẽ làm tăng thâm hụt thương mại từ 0. Ngoài ra, theo Roubini và Setser (2005), việc nền kinh tế Mỹ vẫn ở trong tình trạng thâm hụt thương mại ngay cả khi đồng dollar sụt giảm mạnh vào năm 2003 một phần là do thâm hụt ngân sách lớn và liên tục ở Mỹ.
Do thâm hụt tài khóa vẫn lớn và tiết kiệm 8 tư nhân ở Mỹ vẫn thấp, sự sụt giảm giá trị của đồng dollar sẽ làm giảm thâm hụt thương mại khi và chỉ khi tiêu dùng tư nhân giảm mạnh (tức tiết kiệm tư nhân tăng), hay khi có sự sụt giảm trong đầu tư tư nhân do lãi suất thực tăng cao. Theo nhiều tác giả, vào năm 2004, tỷ lệ thâm hụt ngân sách trên GDP vẫn giữ nguyên không đổi, lãi suất thực vẫn thấp, tiết kiệm tư nhân giảm và đầu tư tư nhân tăng cao. Kết quả là, khoảng cách giữa tiết kiệm và đầu tư ngày càng mở rộng, thâm hụt tài khoản vãng lai tiếp tục duy trì. Sử dụng dữ liệu sau chiến tranh thế giới thứ 2 ở Mỹ, Leachman và Francis (2002) nhận thấy chuỗi dữ liệu chính sách tài khóa và tài khoản vãng lai trước năm 1974 có mối quan hệ đồng liên kết.
Điều này giúp cho giả thiết về mối tương quan ngắn hạn giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai không bị bác bỏ.Tuy nhiên, cũng không loại trừ khả năng tồn tại tình trạng thâm hụt kép trong dài hạn sau chiến tranh thế giới thứ 2, thời kỳ Bretton Woods. Trong khi đó, các kết quả từ mô hình cơ chế hiệu chỉnh sai số của Leachman và Francis (2002) đã thể hiện mối quan hệ nhân quả đi từ thâm hụt bên trong tới thâm hụt bên ngoài, điều này đã ủng hộ cho lập luận rằng, tình trạng thâm hụt ngân sách sau chiến tranh thế giới thứ 2 là một trong những nguyên nhân dẫn đến thâm hụt tài khoản vãng lai. Riêng với thời kỳ trước đó, các kết quả thực nghiệm cho thấy mối quan hệ thâm hụt kép chỉ tồn tại trong thời gian rất ngắn. Khi nghiên cứu về một số các quốc gia EU, Beetsma và cộng sự (2007) nhận thấy rằng, cú sốc chi tiêu chính phủ làm giảm cán cân vãng lai và tăng tỷ giá thực, trong đó, kênh truyền dẫn chủ yếu trong ngắn hạn chính là cú sốc sản lượng, còn trong dài hạn chính là tỷ giá thực.
Monacelli và Perotti (2007) nhận thấy rằng, theo sau sự gia tăng chi tiêu dùng của chính phủ Mỹ, tài khoản vãng lai vẫn ở quanh xu hướng ban đầu, nhưng cải thiện dần sau 3 năm. Họ cũng tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ ủng hộ giả thuyết thâm hụt kép ở Anh, Úc và Canada. Corsetti và Muller (2006) thì cho rằng tác động của cú sốc tài khóa lên tài khoản vãng lai dường như mạnh hơn và dai dẳng hơn trong những nền kinh tế mà tổng khối lượng mậu dịch chiếm 9 tỷ trọng lớn trong GDP (Canada, Anh) so với những nền kinh tế mà khối lượng mậu dịch chiếm tỷ trọng nhỏ trong GDP. Với phân tích bằng mô hình hồi quy dữ liệu bảng cho một tập hợp các quốc gia, nhiều nghiên cứu đã tìm thấy tác động có ý nghĩa thống kê đáng kể của các biến tài khóa lên sự mất cân bằng bên ngoài.
Nghiên cứu gần đây nhất là của Abbas và cộng sự (2010) nghiên cứu về các nhân tố quyết định tài khoản vãng lai cho 135 quốc gia trong giai đoạn 1975-2004, bằng cách sử dụng mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên GLS, tác giả đã chứng tỏ mối tương quan dương giữa tài khoản vãng lai và cán cân ngân sách. Trong khi đó, Leigh (2008) cho thấy một sự gia tăng trong chi tiêu dùng của chính phủ có tương quan với sự gia tăng tỷ giá thực cân bằng ở những quốc gia phát triển và đang phát triển khi hồi quy với dữ liệu bảng. Riêng tác động thực lên tài khoản vãng lai có thể khác nhau tùy thuộc vào xu hướng điều chỉnh của tỷ giá thực về trạng thái cân bằng. Tài khoản vãng lai sẽ bị thâm hụt lớn nếu tỷ giá tăng vượt quá mức cân bằng và ngược lại.
Mohammadi (2004) đã tìm thấy tác động đối xứng của việc mở rộng và thu hẹp tài khóa cho mẫu 23 quốc gia phát triển, cùng 43 quốc gia mới nổi và đang phát triển, đó là sự gia tăng chi tiêu chính phủ được tài trợ bởi sự gia tăng thuế thường đi kèm với sự sụt giảm tài khoản vãng lai ở các quốc gia phát triển và đang phát triển; nếu chi tiêu chính phủ được tài trợ bằng nợ vay, cán cân vãng lai ở những nước đang phát triển sẽ sụt giảm nhiều hơn so với những nước phát triển. Trái lại, nghiên cứu của Khalid và Guan (1999) không ủng hộ mối quan hệ dài hạn giữa thâm hụt tài khoản vãng lai và thâm hụt ngân sách ở những nước phát triển, tuy nhiên ở những nước đang phát triển thì vẫn tồn tại mối quan hệ này. Bên cạnh đó, nghiên cứu của những tác giả này còn cho thấy chiều hướng nhân quả chạy từ thâm hụt ngân sách tới thâm hụt tài khoản vãng lai cho hầu hết các quốc gia trong mẫu. Ngoài ra, một số nghiên cứu còn cho thấy tồn tại mối quan hệ hai chiều giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai.
Chẳng hạn như Darrat (1988) sử dụng kiểm định nhân quả đa biến Granger kết hợp với chỉ tiêu Akaike để nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai ở 10 Mỹ cho giai đoạn từ 1/1960 đến 4/1984. Kết quả thực nghiệm cho thấy tồn tại mối quan hệ hai chiều giữa hai biến.Islam (1998) phân tích giả thuyết về tình trạng thâm hụt kép ở Brazil cho giai đoạn 1973 - 1991. Kết quả của ông cũng đã cung cấp bằng chứng chứng tỏ mối quan hệ hai chiều giữa cán cân ngân sách và sự mất cân bằng thương mại. Đối với trường hợp của Ma-rốc, sử dụng kiểm định đồng liên kết và các mô hình hiệu chỉnh sai số, Mansouri (1998) cho rằng hai biến thâm hụt bên trong và thâm hụt bên ngoài có mối quan hệ nhân quả hai chiều trong ngắn hạn lẫn dài hạn.
Tương tự, cũng có nhiều nghiên cứu khác ủng hộ lý thuyết thâm hụt kép, chẳng hạn như nghiên cứu của Islam (1990), khi sử dụng dữ liệu từ Brazil trong bài nghiên cứu “Brazil’s twin deficits: An empirical examination”, thì thấy rằng có sự tương quan cùng chiều lâu dài giữa thâm hụt ngân sách và thâm hut thương mại. Một nghiên cứu khác của Kenneth Kasa (1994) trong bài“FiniteHorizonsandtheTwinDeficits” thì đã tìm thấy mối quan hệ giữa thâm hụt thương mại và thâm hụt ngân sách trong thời kỳ chiến tranh giữa Mỹ, Nhật và Đức sau khi kiểm soát tác động của chi tiêu công lên GNP. Còn với bài nghiên cứu“Budget Deficit Persistence and the Twin Deficits Hypothesis” của Normandin (1999), tác giả đã chỉ ra rằng tăng thuế sẽ trực tiếp làm giảm thâm hụt ngân sách và sẽ gián tiếp làm giảm thâm hụt nước ngoài, nhờ vào lượng cắt giảm tiêu dùng hàng nhập khẩu do thu nhập cá nhân sau thuế bị giảm đi. Các nghiên cứu không ủng hộ lý thuyết thâm hụt kép Những nhà nghiên cứu theo trường phái lý thuyết cân bằng Ricardo cho rằng, thâm hụt ngân sách không gây ra bất kỳ sự thay đổi nào trong lãi suất và tỷ giá hối đoái, do đó không gây ra sự mất cân bằng nào trong tài khoản vãng lai.
Nói cách khác, thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai là độc lập với nhau. Đã có nhiều nghiên cứu đưa ra bằng chứng ủng hộ cho lý thuyết cân bằng của Ricardo. Một trong những nghiên cứu đầu tiên phát hiện ra mối quan hệ độc lập giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai là nghiên cứu của Barro, R. Theo tác giả, việc giảm tiết kiệm công do thâm hụt ngân sách sẽ dẫn đến sự gia tăng 11 tương ứng trong tiết kiệm tư nhân.
Nguyên nhân là do người tiêu dùng mong đợi rằng việc cắt giảm thuế ngày hôm nay sẽ dẫn đến sự gia tăng số thuế phải nộp trong tương lai để thực hiện nghĩa vụ nợ công, do đó ngày hôm nay họ sẽ tiết kiệm nhiều hơn. Kết quả là tổng tiết kiệm và đầu tư của toàn nền kinh tế không đổi, cán cân tài khoản vãng lai không bị ảnh hưởng. Dựa trên dữ liệu hàng quý từ 1976 đến 1997, tác giả sử dụng mô hình VECM để tính toán phương sai sai số dự báo của biến tài khoản vãng lai và hàm phản ứng đẩy.