Chương 1 đưa ra sự giới thiệu một cách tổng quát về đề tài cụ thể bao gồm lý do đề tài được lựa chọn, đối tượng và mục tiêu nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn cũng như bố cục của bài nghiên cứu. Các vấn đề này đưa ra cái nhìn ban đầu một cách ngắn gọn nhưng đầy đủ về bài nghiên cứu. - Chương 2 thảo luận về cơ sở lý thuyết về chính sách tài khóa, các công cụ của chính sách tài khóa, chính sách tài khóa mở rộng – thu hẹp, chính sách tài khóa 123doc 7 chủ động – tự động, chính sách tài khóa thuận chu kỳ - phản chu kỳ và những nghiên cứu trước đây, các tranh luận làm nền tảng và động lực cho việc thực hiện đề tài này. - Chương 3 tập trung thảo luận về các phương pháp thực nghiệm – mô hình SVAR áp đặt các ràng buộc về dấu và việc lựa chọn các biến nghiên cứu trong bài.
Bên cạnh đó, các trình bày về cách thu thập và xử lý số liệu cho từng biến cụ thể của được bao gồm trong chương này. - Chương 5 trình bày các kiểm định ban đầu cho mô hình và các kết quả nghiên cứu thực nghiệm từ hàm phản ứng đẩy và phân rã phương sai; và - Chương 6 đưa ra các kết luận về các vấn đề nghiên cứu và một số khuyến nghị rút ra từ kết quả nghiên cứu. Bên cạnh đó, cũng nêu ra hạn chế của đề tài và hướng phát triển của đề tài. 123doc 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ LÊN CHU KỲ KINH TẾ 2.
Cơ sở lý thuyết về chính sách tài khóa và tác động của nó lên chu kỳ kinh tế Trước cuộc Đại khủng hoảng (kéo dài từ ngày 4 tháng 9 năm 1929 đến cuối những năm 1930 - đầu những năm 1940), cách tiếp cận của Chính phủ đối với nền kinh tế là tự do kinh tế. Tuy nhiên, sau chiến tranh thế giới lần II, Chính phủ được xác định phải nắm giữ vai trò tiên phong trong nền kinh tế để kiểm soát vấn đề thất nghiệp, chu kỳ kinh doanh, lạm phát và chi phí sử dụng tiền. Bằng cách sử dụng kết hợp chính sách tiền tệ và tài khóa (tùy vào định hướng chính trị và triết lý của những người cầm quyền ở một thời điểm nhất định mà một chính sách có thể chiếm ưu thế hơn chính sách kia), Chính phủ có thể kiểm soát hệ thống kinh tế. Chính sách tài khóa là biện pháp giúp Chính phủ giám sát và tác động đến nền kinh tế của quốc gia thông qua việc điều chỉnh mức chi tiêu công và hệ thống thuế khóa.
Bằng chính sách tài khóa, Chính phủ cố gắng đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô như giúp nền kinh tế tăng trưởng, cải thiện tỷ lệ thất nghiệp, kiểm soát lạm phát, ổn định chu kỳ kinh doanh và tác động đến lãi suất. Chính sách tài khóa dựa trên lý thuyết của nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes (1883–1946). Lý thuyết này về cơ bản cho rằng Chính phủ có thể tác động đến mức năng suất kinh tế vĩ mô bằng cách tăng hoặc giảm mức thuế và chi tiêu công. Do đó, tác động này sẽ kiềm chế lạm phát, tạo việc làm và duy trì giá trị tiền tệ ở mức lành mạnh.
Trong lý thuyết của Keynes, thu nhập của một quốc gia được xác định như sau: 𝑌𝑌 = 𝐶𝐶 + 𝐼𝐼 + 𝐺𝐺 + 𝑁𝑁𝑁𝑁 (1) 123doc 9 Trong đó, C: chi tiêu cuối cùng của hộ gia đình I: tổng đầu tư của nền kinh tế G: tiêu dùng cuối cùng của chính phủ NX: xuất khẩu thuần (Xuất khẩu – Nhập khẩu) Y: Tổng sản phẩm quốc nội Phương trình trên cho thấy chính phủ có thể tác động đến nền kinh tế thông qua tác động đến Y trực tiếp thông qua chính sách tài khóa (𝐺𝐺) và gián tiếp thông qua tác động đến 𝐶𝐶, 𝐼𝐼 và 𝑁𝑁𝑁𝑁. Chi tiêu chính phủ có thể tác động đến tiêu dùng của hộ gia đình và đầu tư tư nhân một cách gián tiếp thông qua hành vi tiết kiệm của hộ gia đình. Ví dụ, khi chính phủ thuê nhân công cho các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng (trường học, sân bay, cầu v.), các hộ gia đình có nhiều thu nhập hơn và họ sử dụng một phần thu nhập tăng thêm này để mua sắm (tiêu dùng) và tiết kiệm số còn lại. Tiết kiệm tăng sẽ làm tăng thêm đầu tư.
Chính sách tài khóa cũng có thể ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu gián tiếp thông qua thuế và trợ cấp. Ví dụ, khi chính phủ tăng thuế trên hàng nhập khẩu và sử dụng một phần vốn cho trợ cấp xuất khẩu, chính sách tài khóa này sẽ đẩy cán cân thanh toán lên trạng thái thặng dư. Ngược lại, một sự giảm thuế nhập khẩu làm tăng cầu hàng hóa, dịch vụ từ nước ngoài, đẩy cán cân thanh toán về trạng thái thâm hụt. Hiện nay có hai quan điểm về chính sách tài khóa, đó là chính sách tài khóa tự động và chính sách tài khóa chủ động.
123doc 10 Chính sách tài khóa chủ động Theo quan điểm của nhà kinh tế học Keynes, Chính phủ phải xem xét đến tình trạng thực tế nền kinh tế quốc gia, từ đó có thể chủ động sử dụng chính sách tài khóa nhằm điều tiết nền kinh tế về mức sản lượng tiềm năng. Từ đó, có hai loại chính sách tài khóa: chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tài khóa thu hẹp. Chính sách tài khóa mở rộng: Trong tình trạng nền kinh tế suy thoái, hay nói cách khác là lúc này, tổng sản lượng quốc gia (Y N ) đang thấp hơn tổng sản lượng tiềm năng (Y P ), Chính phủ cần tăng chi tiêu hoặc giảm thuế ròng, hoặc thực hiện cả hai. Mục tiêu là để kích thích tổng cầu (AD) tăng lên (dịch chuyển qua phải) làm tăng sản lượng quốc gia bằng với sản lượng tiềm năng.
Chính sách tài khóa mở rộng trong tình trạng nền kinh tế suy thoái Chính sách tài khóa thu hẹp: Khi nền kinh tế lạm phát hay tổng sản lượng quốc gia (Y N ) cao hơn tổng sản lượng tiềm năng (Y p ), Chính phủ cần phải điều tiết sản lượng quốc gia giảm đến khi cân bằng với sản lượng tiềm năng. Để thực hiện điều này, Chính phủ cũng cần phải thông qua hai công cụ thuế và chi tiêu Chính phủ: tăng thuế ròng hoặc giảm chi tiêu hoặc vừa tăng thuế ròng vừa giảm chi tiêu. Từ đó, tổng cầu (AD) giảm (di chuyển sang trái) dẫn đến tổng sản lượng quốc gia giảm xuống. Chính sách tài khóa thu hẹp trong tình trạng nền kinh tế phát triển nóng Chính sách tài khóa chủ động có thể là nghịch chu kỳ hoặc cùng chu kỳ với chu kỳ kinh doanh.
Một chính sách tài khóa nghịch chu kỳ là một chính sách mở rộng trong thời kỳ suy thoái và thu hẹp trong thời kỳ sự bùng nổ. Trái lại, chính sách tài khóa đồng chu kỳ xảy ra khi chính sách tài khóa chủ động thu hẹp trong thời kỳ suy thoái, và mở rộng trong suốt thời kỳ tăng trưởng, làm gia tăng sự biến động của sản lượng. Chính sách tài khóa chủ động có thể được thiết kế nghịch chu kỳ để ổn định chu kỳ kinh doanh, hoặc là đồng chu kỳ để thúc đẩy tăng trưởng hoặc kiềm chế lạm phát. Như vậy, để thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, chính sách tài khóa nên là một biến số nghịch chu kỳ.
Theo các lý thuyết, cơ chế đằng sau chính sách tài khóa chủ động có vẻ dễ dàng. Tuy nhiên, việc áp dụng chính sách tài khóa trong thực tiễn là một vấn đề vì nhiều lý do. Thứ nhất, sự không chắc chắn về độ trễ và thời điểm là những mối quan tâm lớn khi thực hiện chính sách tài khóa chủ động. Chính phủ nên điều chỉnh chính sách tài khóa bao lâu một lần để điều chỉnh nền kinh tế về mức tăng trưởng tiềm năng?.
“Có ba độ trễ làm cho chính sách tài khóa trở khó thực hiện. Thứ nhất, là khoảng thời gian giữa thời điểm cần thay đổi chính sách và thời gian mà chính phủ công nhận điều này. Thứ hai, là khoảng thời gian khi chính phủ công nhận rằng cần thay đổi chính sách và khi cần hành động. Độ trễ thứ ba xảy ra giữa thời điểm chính sách được thay đổi và khi 123doc 12 những thay đổi ảnh hưởng đến nền kinh tế" (Blinder, 2008).
Do những chậm trễ này, xác định thời điểm thực hiện chính sách tài khóa chủ động để điều chỉnh nền kinh tế là một nhiệm vụ rất khó khăn. Vào thời điểm chính sách có hiệu lực, tình trạng của nền kinh tế có thể đã thay đổi. Một chính sách tài khóa có tính nghịch chu kỳ có thể trở thành đồng chu kỳ nếu một nhà kinh tế đưa ra một đánh giá không chính xác về tình trạng hiện tại và tương lai của nền kinh tế. Thứ hai, việc áp dụng chính sách tài khóa chủ động cũng có thể là vấn đề trong trường hợp ngân sách của chính phủ không bền vững về tài chính.
Tính bền vững về tài chính đề cập đến "khả năng của chính phủ để duy trì các chính sách hiện tại và đáp ứng được ràng buộc về ngân sách mà không dẫn đến nghĩa vụ nợ" (Burnside, 2005). Về mặt hoạt động, nợ công không phải là mối quan tâm cho vấn đề bền vững tài chính nếu quốc gia đó là một quốc gia có chủ quyền về tiền tệ và không nợ quá nhiều ngoại tệ trong phạm vi mà nó không thể trả lại. Tuy nhiên, trong trường hợp các chính phủ dựa nhiều vào các nguồn tài trợ từ bên ngoài, cho dù đó là IMF hay ECB, thì sẽ đặt ra câu hỏi về khả năng của chính phủ để chi tiêu một cách khôn ngoan trên khoản thanh khoản mà họ không thể tạo ra. Có một nguyên tắc tài trợ thâm hụt là chính phủ không nên đi vay để chi tiêu mà phải dùng cho đầu tư phát triển.
Người ta gọi đó là nguyên tắc tài khóa vàng (golden rule). Ngụ ý ở đây là việc đi vay để chi tiêu sẽ không thể tạo ra nguồn tiền cho việc trả nợ trong tương lai, ảnh hưởng đến tính an toàn của nợ công. Thay vào đó, việc đi vay chỉ được dùng để tài trợ cho các dự án đầu tư có khả năng thu hồi vốn hoặc ít nhất là cũng tạo ra năng lực sản xuất cho nền kinh tế. Khi chính phủ đi vay để tài trợ thâm hụt sẽ làm tăng nhu cầu vay vốn trên thị trường tài chính.